vanban.org

Bản án 11/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn khởi kiện về việc xin ly hôn của bà Nguyễn Thị T.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị T được ly hôn ông Nguyễn Hoàng C. Về con chung: Bà T, ông C không có con chung, không yêu cầu nên không xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án Thành -Châu"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn khởi kiện về việc xin ly hôn của bà Nguyễn Thị T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂY SƠN
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số : 11/2023/HNGĐ-ST
Ngày : 20/3/2023
V/v Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY SƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Minh Trí

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tấn Thành

Bà Trần Thị Lan

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Khánh Phước là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Thìn – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tây Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân-gia đình thụ lý số 380/2022/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 10 năm 2022 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 02 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2023/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Th - Sinh năm: 1969

Địa chỉ: Xóm 5, QQ, NK, AN, Bình Định.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Hoàng C - Sinh năm: 1970

Địa chỉ: AV1, TV, TS, Bình Định.

Bà Th có mặt tại phiên tòa, ông C vắng mặt lần 2 không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 22 tháng 8 năm 2022 và tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Thị Th trình bày:

Bà và ông Nguyễn Hoàng C kết hôn vào ngày 26/3/2015 tại UBND xã TV, huyện TS, tỉnh Bình Định. Hôn nhân do mai mối nhưng hoàn toàn tự nguyện không ai ép buộc. Trước khi kết hôn với ông C thì bà có 01 đời chồng nhưng đã chết, sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc tại nhà ông C ở thôn AV1, TV, TS, Bình Định. Quá trình chung sống ông C thường xuyên uống rượu say về đánh đập bà nhiều lần và đốt cháy xe honda của bà, bà có mời Công an xã T V giải quyết, ông C hứa sửa đổi, nhưng sau đó ông C tính nào tật nấy nên bà không thể chung sống được với ông C. Do đó từ năm 2018 bà về nhà cha mẹ bà ở thôn QQ, xã NK, thị xã AN, tỉnh Bình Định sinh sống cho đến nay. Từ đó cho đến nay vợ chồng không ai quan tâm đến ai vì giữa bà và ông C không có con chung, không có tài sản chung nên không có gì ràng buột. Nay bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông C để bà ổn định cuộc sống.

Về con chung: Vợ chồng không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn ông Nguyễn Hoàng C vắng mặt không có lý do:

Về các thủ tục giải quyết ly hôn đã được Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn triệu tập hợp lệ nhiều lần để làm việc về việc bà T xin ly hôn, nhưng ông Nguyễn Hoàng C đều vắng mặt không có lý do và không có văn bản hoặc quan điểm gửi Tòa án, vì vậy Tòa án không biết quan điểm của ông C về những nội dung bà T yêu cầu Tòa án giải quyết, đồng thời Tòa án cũng không tiến hành hòa giải được, Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu: Trong quá trình tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng. Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố dụng dân sự 2015. Bị đơn ông Nguyễn Hoàng C đã được Tòa án niêm yết hợp lệ đến lần hai mà vẫn vắng mặt tại phiên tòa và không có lý do. Căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt ông C Về nội dung: Áp dụng Điều 8,9 và 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị HĐXX Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị T, cho bà T được ly hôn với ông Nguyễn Hoàng C. Về con chung: Vợ chồng không có con chung, bà T không yêu cầu nên không xét. Về tài sản chung và nợ chung: Bà T không yêu cầu nên không xét. Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm bà T phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về sự vắng mặt của bị đơn ông Nguyễn Hoàng C đã được Tòa án niêm yết hợp lệ đến lần hai mà vẫn vắng mặt tại phiên tòa và không có lý do, căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 227 và Điều 228, điểm b khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông C.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Hoàng C kết hôn vào ngày 26/3/2015 tại UBND xã TV, huyện TS, tỉnh Bình Định nên hôn nhân của ông bà là hợp pháp. Quá trình chung sống ông C thường xuyên uống rượu say về đánh đập bà nhiều lần và đốt cháy xe honda của bà, bà có mời Công an xã TV giải quyết, ông C hứa sửa đổi, nhưng sau đó ông C tính nào tật nấy nên bà không thể chung sống được với ông C. Do đó từ năm 2018 bà về nhà cha mẹ bà ở thôn QQ, xã NK, thị xã AN, tỉnh Bình Định sinh sống cho đến nay, bà nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn. Nay bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Hoàng C.

Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn đã tiến hành xác minh thu thập chứng cứ, tại biên bản xác minh ngày 03/02/2023 của Công an xã Tây Vinh cung cấp: Ông Nguyễn Hoàng C có hộ khẩu ở thôn AV 1, TV, Tây Sơn, Bình Định, HSCT số 21838 - 002542, ông C là chủ hộ, hiện ông C chưa chuyển khẩu đi đâu, đang đi làm ăn xa, mỗi khi có việc ông C vẫn về địa phương. Việc ông C không đến Tòa án làm việc, không có quan điểm gửi đến Tòa án chứng tỏ ông C không có trách nhiệm với hôn nhân của chính mình. Tình trạng hôn nhân giữa bà T và ông C đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà T, cho bà T được ly hôn ông C.

Về con chung: Bà T, ông C không có con chung, nên bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà T không yêu cầu Tòa giải quyết nên không xét.

Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, và khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án đã nộp theo biên lai số 0007490 ngày 27/10/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định.

Lời phát biểu ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của HĐXX.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 238, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ các Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận đơn khởi kiện về việc xin ly hôn của bà Nguyễn Thị T.

2. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị T được ly hôn ông Nguyễn Hoàng C.

3. Về con chung: Bà T, ông C không có con chung, không yêu cầu nên không xét.

4. Về tài sản chung và nợ chung: Bà T không yêu cầu, nên không xét.

5. Về án phí: Bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án đã nộp theo biên lai số 0007490 ngày 27/10/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định.

6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Bình Định;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND huyện Tây Sơn;

(Đã ký)

- Chi cục THADS huyện Tây Sơn;

- UBND xã Tây Vinh;

- Các đương sự;

- Lưu hồ sơ vụ án.

Lê Thị Minh Trí HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ