vanban.org

Bản án 11/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ksơr H P.

Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn Ksơr H P được ly hôn bị đơn Nay C. Về con chung: Giao con chung Ksơr Y S, sinh ngày 03/10/2017 cho nguyên đơn Ksơr H P trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ksor H P xin ly hôn Nay C"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ksơr H P.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SÔNG HINH
TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 11/2023/HNGĐ-ST
Ngày 28/7/2023
“V/v Xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG HINH, TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Bàn Thị Tiên. Các hội thẩm nhân dân: Ông Niê Y Ling (Ma Bin) và ông Phạm Xuân Lai.

- Thư ký phiên tòa: Ông Ka Sô Bách – Cán bộ Tòa án nhân dân (TAND) huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Hinh tham gia phiên tòa: Bà Bàn Thị Tiên - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở TAND huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên. TAND huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 151/2022/TLST-HNGĐ, ngày 25/11/2022 về việc xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 26/6/2023, Quyết định hoãn phiên toà số 04/2023/QĐST-HNGĐ ngày 12/7/2023, Quyết định thay đổi người tiến hành tố tụng số 05/2023/QĐ-CA ngày 21/7/2023 và Quyết định thay đổi người tiến hành tố tụng số 03/2023/QĐ-CA ngày 25/7/2023 của TAND huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Ksơr H P, sinh năm 1988; địa chỉ: Buôn B, xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên; có mặt.

- Bị đơn: Anh Nay C, sinh năm 1992; địa chỉ: Buôn B, xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên; vắng mặt lần thứ 2 không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn ngày 21/11/2022 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, chị K H PLoan (sau đây gọi tắt là nguyên đơn) trình bày: Về hôn nhân: Nguyên đơn và anh Nay C (viết tắt là bị đơn) tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật vào năm 2015 tại Ủy ban nhân dân xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên. Sau khi kết hôn cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi nhau. Vì lý do, chồng không chịu lao động, đánh bài bạc, ghen tuông vô cớ, hay uống rượu, đánh vợ. Nay xét thấy cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với bị đơn. Về con chung: Có 01 con chung: Ksơr Y S, sinh ngày 03/10/2017. Hiện tại nguyên đơn đang trực tiếp nuôi con và có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc con chung, không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng. Về tài sản chung: Không yêu cầu Toà giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Toà án triệu tập đến toà để hoà giải nhưng bị đơn không đến Toà cũng không có ý kiến trình bày gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên không tiến hành hoà giải được.

Tại phiên tòa, nguyên đơn giữ nguyên nội dung yêu cầu ly hôn, con chung, tài sản chung; bị đơn vắng mặt tại phiên toà lần thứ 2 không có lý do.

Đại diện VKSND huyện Sông Hinh phát biểu quan điểm: Về thủ tục tố tụng: Việc thụ lý vụ án, việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử (HĐXX), Thư ký, việc chấp hành pháp luật của những người tham gia phiên tòa và phiên tòa diễn ra đúng trình tự, thủ tục tố tụng. Về nội dung: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn. Về con chung: Đề nghị giao con chung Ksơr Y S, sinh ngày 03/10/2017 cho nguyên đơn tiếp tục nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng, tài sản chung: Không yêu cầu nên đề nghị không xem xét. Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Qua kiểm tra các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Nguyên đơn khởi kiện xin ly hôn với bị đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định quan hệ là ly hôn, tranh chấp về nuôi con. Bị đơn có địa chỉ cư trú tại: Buôn B, xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên theo quy định khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, TAND huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

Về quan hệ hôn nhân:

Nguyên đơn, bị đơn tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 07 Quyển số I/2015 ngày 26/8/2015 nên xác định quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận. Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Tòa án đã triệu tập hai bên đến Tòa để giải quyết vụ án nhưng bị đơn không đến và không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tại phiên tòa nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu ly hôn, không đồng ý tiếp tục sống chung với bị đơn, vì lý do không còn tình cảm với nhau, vợ chồng đã được hai bên gia đình giải quyết bỏ nhau theo phong tục đồng bào xong. Tại Biên bản xác minh ngày 09/6/2023 già làng Ma Lu xác nhận bị đơn hay uống rượu, quậy phá dẫn đến vợ chồng không hạnh phúc và hai bên gia đình đã giải quyết cho vợ chồng bỏ nhau theo phong tục đồng bào Ê đê có sự chứng kiến của dòng họ hai bên, hàng xóm và già làng; về mặt phong tục thì hiện tại nguyên đơn và bị đơn không còn là vợ chồng. Việc hai bên gia đình giải quyết cho vợ chồng bỏ nhau theo phong tục đồng bào thì bị đơn cũng thống nhất, không có ý kiến gì khác.

Từ những căn cứ trên, Hội đồng xét xử xét thấy nguyên đơn không còn tình cảm với bị đơn chỉ mong muốn được ly hôn sớm, vợ chồng đã được gia đình, dòng họ hai bên giải quyết cho bỏ nhau theo phong tục đồng bào và có sự thống nhất của bị đơn. Do đó, xét thấy quan hệ hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là có căn cứ.

Về con chung:

Nguyên đơn và bị đơn có 01 con chung: Ksơr Y S, sinh ngày 03/10/2017. Hiện nguyên đơn đang trực tiếp nuôi dưỡng con chung và có nguyện vọng tiếp tục nuôi dưỡng con chung. Do đó, giao con chung Ksơr Y S, sinh ngày 03/10/2017 cho nguyên đơn tiếp tục nuôi dưỡng là có căn cứ theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con: Nguyên đơn không yêu cầu nên không xem xét.

Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, nguyên đơn phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm được tính trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu số 0001321 ngày 25/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sông Hinh.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ksơr H P.

1. Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn Ksơr H P được ly hôn bị đơn Nay C.

2. Về con chung: Giao con chung Ksơr Y S, sinh ngày 03/10/2017 cho nguyên đơn Ksơr H P trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.

Bị đơn Nay C có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản.

3. Về án phí: Nguyên đơn Ksơr H P phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm được tính trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đã nộp tại biên lai thu số 0001321 ngày 25/11/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Sông Hinh.

Nguyên đơn có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trng thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ