vanban.org

Bản án 11/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Hà Thị H được ly hôn với ông Hà Huy Ch. Về con chung: Giao con chung là Hà Thanh H – sinh ngày: 08/7/2007 và Hà Minh Q – sinh ngày: 18/01/2010 cho bà Hà Thị H trực tiếp nuôi dưỡng khi con chưa thành niên hoặc đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MANG YANG
TỈNH GIA LAI
——————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 02/6/2023
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG YANG, TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Nam Trung

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Định và ông Nguyễn Trung Kiên

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Minh Hải

Ngày 02 tháng 6 năm 2023 tại Tòa án nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 110/2022/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 10 năm 2022 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Hà Thị H – sinh năm: 1983

Địa chỉ: Làng G, xã K, huyện M, tỉnh Gia Lai. (Vắng mặt)

- Bị đơn: Ông Hà Huy Ch – sinh năm: 1981

Địa chỉ: Làng G, xã K, huyện M, tỉnh Gia Lai. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện và lời khai của nguyên đơn, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bà Hà Thị H và ông Hà Huy Ch tự nguyện kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Vụ Bổn, huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 16/3/2007. Trong thời gian chung sống, vợ chồng mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã, xô xát. Lý do ông Hà Huy Ch nghiện rượu, hay chửi mắng vợ con, không có nghề nghiệp để lo cho gia đình. Ông bà đã sống ly thân 04 năm nay, không còn quan tâm nhau, phần ai nấy sống. Nhận thấy hôn nhân không có hạnh phúc và không thể kéo dài thêm nên bà Hà Thị H đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Hà Huy Ch.

Về con chung: Ông bà có 02 con chung tên Hà Thanh H – sinh ngày: 08/7/2007 và Hà Minh Q – sinh ngày: 18/01/2010. Bà Hà Thị H đề nghị sau khi ly hôn được trực tiếp nuôi 02 con, không yêu cầu ông Hà Huy Ch cấp dưỡng.

Về tài sản chung: Bà Hà Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Bà Hà Thị H xác định vợ chồng không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Đối với bị đơn ông Hà Huy Ch đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án nhưng không có văn bản trình bày ý kiến cũng như không có yêu cầu gì. Ông Hà Huy Ch đã được triệu tập đến Tòa án hòa giải đoàn tụ với bà Hà Thị H vào ngày 21/12/2022 cũng như tại phiên tòa ngày 12/5/2023 và phiên tòa hôm nay, ông Hà Huy Ch đều vắng mặt không có lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Bị đơn ông Hà Huy Ch đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai, nguyên đơn xin được xét xử vắng mặt, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Mang Yang xét xử vắng mặt các đương sự.

Về quan hệ hôn nhân và thẩm quyền giải quyết: Bà Hà Thị H và ông Hà Huy Ch kết hôn vào năm 2007 có đăng ký theo quy định pháp luật. Điều này phù hợp với Giấy chứng nhận kết hôn số 29, quyển số 01 do UBND xã Vụ Bổn, huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 16/3/2007 mà nguyên đơn đã giao nộp. Vì vậy quan hệ hôn nhân giữa ông bà là hợp pháp. Quá trình thụ lý vụ án xác định ông Hà Huy Ch cư trú tại làng Git, xã kon Chiêng, huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai. Vì vậy Hội đồng xét xử xác định đây là quan hệ tranh chấp về ly hôn. Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai.

Về mâu thuẫn gia đình: Theo trình bày của đương sự và đơn xin xác nhận tại địa phương, nhận thấy trong quá trình chung sống, ông bà có phát sinh mâu thuẫn, cãi vã, nguyên nhân do ông Hà Huy Ch thường xuyên uống rượu về chửi mắng đánh vợ con. Cả hai hiện đã sống ly thân nhiều năm. Các con hiện do bà Hà Thị H trực tiếp nuôi dưỡng. Tòa án đã cho các đương sự thời gian hàn gắn mối quan hệ nhưng ông bà không có thiện chí muốn hòa giải và đoàn tụ xây dựng gia đình. Xét thấy cả hai đã không còn sự tôn trọng, gắn bó, mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà Hà Thị H được ly hôn với ông Hà Huy Ch theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Ông bà có 02 con chung tên là Hà Thanh H – sinh ngày: 08/7/2007 và Hà Minh Q – sinh ngày: 18/01/2010. Nguyên đơn yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con sau khi ly hôn. Nhận thấy nguyện vọng của các con muốn ở với mẹ sau khi bố mẹ ly hôn. Ông Hà Huy Ch không có ý kiến gì về việc giành quyền nuôi con. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Hà Thị H, giao 02 con cho bà Hận trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc sau khi ly hôn.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Hà Thị H không yêu cầu ông Hà Huy Ch cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

Về tài sản chung: Ông Hà Huy Ch và bà Hà Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

Về nợ chung: Bà Hà Thị H xác định vợ chồng bà không có nợ chung nên không xem xét.

Về án phí: Bà Hà Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 266, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Hà Thị H được ly hôn với ông Hà Huy Ch.

2. Về con chung: Giao con chung là Hà Thanh H – sinh ngày: 08/7/2007 và Hà Minh Q – sinh ngày: 18/01/2010 cho bà Hà Thị H trực tiếp nuôi dưỡng khi con chưa thành niên hoặc đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Quyền và nghĩa vụ trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn được áp dụng theo quy định tại các Điều 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình.

3. Về án phí: Bà Hà Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng phí, lệ phí Tòa án số 0010754 ngày 24/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai. Bà Hận đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về thời hạn kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (02/6/2023), đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a ,7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ