vanban.org

Bản án 11/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Bùi Thị Như Y, xử cho chị Y được ly hôn với anh Phan Thanh B.

Về con chung: Công nhận thỏa thuận giữa chị Bùi Thị Như Y và anh Phan Thanh B, giao con chung là cháu Phan Tùng N, sinh ngày 17/12/2013 cho anh B và giao cháu Phan Bảo L, sinh ngày 25/12/2016 cho chị Y trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng cho đến khi các cháu trưởng thành, có khả năng lao độn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Kiện xin ly hôn, yêu cầu giải quyết về con chung"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Bùi Thị Như Y, xử cho chị Y được ly hôn với anh Phan Thanh B.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 108 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KBANG
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2023/HNGĐ-ST.
Ngày: 07/7/2023.
“V/v: Ly hôn giữa chị Y và anh B”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KBANG, TỈNH GIA LAI

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Nguyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Xuân Tư.

2. Bà Võ Thị Cảnh.

-Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lê - Thư ký Toà án nhân dân (TAND) huyện Kbang, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) huyện Kbang, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Nông Trường Sinh - Kiểm sát viên (KSV).

Trong ngày 07/7/2023, tại trụ sở TAND huyện Kbang, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình (HN&GĐ) thụ lý số: 95/2023/TLST-HNGĐ ngày 27/4/2023 về tranh chấp: “Kiện xin ly hôn, yêu cầu giải quyết về con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2023/QĐST-HNGĐ ngày 19/5/2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Bùi Thị Như Y, sinh năm 1988;

Địa chỉ: Tổ 3, phường A, thị xã A, tỉnh G.

- Bị đơn: Anh Phan Thanh B, sinh năm 1979;

Địa chỉ: Tổ dân phố 9, thị trấn K, huyện K, tỉnh G.

Chị Y vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt, anh B lần thứ hai vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị Như Y và anh Phan Thanh B qua thời gian quen biết, tìm hiểu đã tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn (ĐKKH) tại Ủy ban nhân dân (UBND) phường An Tân, thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai vào ngày 24/5/2013.

Quá trình chung sống, vợ chồng anh chị đã phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo chị Y trình bày là do anh chị không hợp tính tình nhau, khác nhau về suy nghĩ và quan điểm sống, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, không tin tưởng lẫn nhau nên cuộc sống vợ chồng ngày càng căng thẳng, nặng nề, không hạnh phúc, hay xảy ra cãi vã, xích mích, xô xát nhau. Do mâu thuẫn vợ chồng đã thực sự trầm trọng, không thể hoà giải được nên anh chị đã sống ly thân với nhau đến nay đã hơn 4 năm. Xét tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Y đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh B.

Về phía anh B, anh đồng ý với chị Y về nguyên nhân mâu thuẫn của anh chị. Tuy nhiên anh không đồng ý ly hôn với chị Y vì anh vẫn còn tình cảm với chị Y, anh mong muốn đoàn tụ gia đình để cùng nhau nuôi dạy con cái.

2. Về con chung: Chị Y và anh B có 02 con chung tên Phan Tùng N, sinh ngày 17/12/2013 và Phan Bảo L, sinh ngày 25/12/2016. Sau khi ly hôn, chị Y đề nghị giao cháu cho chị và giao cháu N cho anh B trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các cháu trưởng thành, có khả năng lao động; do mỗi người nuôi một con chung nên không bên nào phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho bên nào. Anh B đồng ý với đề nghị của chị Y về giải quyết nuôi con chung nếu vợ chồng phải ly hôn.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Y và anh B không có tài sản chung và nợ chung nên anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Các tài liệu, chứng cứ được nguyên đơn giao nộp, gồm: 01 Giấy đăng ký kết hôn mang tên Phan Thanh B và Bùi Thị Như Y (bản chính); 01 Sổ hộ khẩu mang tên chủ hộ Phan Thanh B (bản sao); 01 Căn cước công dân mang tên Bùi Thị Như Y (bản sao); 02 Trích lục khai sinh mang tên Phan Tùng và Phan Bảo L (đều là bản sao);

Tài liệu, chứng cứ được bị đơn giao nộp: Không có.

Các tình tiết, sự kiện không phải chứng minh: Chị Y và anh B tự nguyện tiến tới hôn nhân, có ĐKKH tại UBND phường An Tân, thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai vào ngày 24/5/2013; anh chị có 02 con chung tên Phan Tùng Nguyên, sinh ngày 17/12/2013 và Phan Bảo Long, sinh ngày 25/12/2016. Điều này được thể hiện qua chứng cứ do chị Y giao nộp là Giấy đăng ký kết hôn mang tên Bùi Thị Như Y và Phan Thanh B, 02 Trích lục khai sinh mang tên Phan Tùng N và Phan Bảo L.

Tại phiên tòa, KSV phát biểu quan điểm của VKSND huyện Kbang, tỉnh Gia Lai về việc giải quyết vụ án như sau:

Áp dụng các Điều 28, 35, 39, 91, 93, 94, 95, 108, 144, 147, 227, 228, 238 và 266 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 (BLTTDS năm 2015); các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình (HN&GĐ) năm 2014; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị Như Y, xử cho chị Y được ly hôn với anh Phan Thanh B; giao cháu Phan Bảo L cho chị Y và giao cháu Phan Tùng N cho anh B trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi các cháu trưởng thành và có khả năng lao động, do mỗi người nuôi một con chung nên không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con cho bên nào; chị Y phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm (LHST) theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về tố tụng dân sự: Chị Bùi Thị Như Y có đơn khởi kiện đề nghị TAND huyện Kbang, tỉnh Gia Lai giải quyết tranh chấp hôn nhân và gia đình giữa chị và anh Phan Thanh B. Theo quy định tại khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND huyện Kbang, tỉnh Gia Lai.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Y và anh B tự nguyện tiến tới hôn nhân, có ĐKKH tại UBND phường An Tân, thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai vào ngày 24/5/2013 nên quan hệ hôn nhân của anh chị được pháp luật công nhận.

Quá trình chung sống, vợ chồng anh chị đã xảy ra nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo chị Y trình bày là do anh chị không hợp tính tình nhau, khác nhau về suy nghĩ và quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, không tin tưởng lẫn nhau nên cuộc sống vợ chồng ngày càng căng thẳng, nặng nề, không hạnh phúc, hay xảy ra cãi vã, xích mích, xô xát nhau. Do mâu thuẫn vợ chồng đã thực sự trầm trọng, không thể hoà giải được nên anh chị đã sống ly thân với nhau đến nay đã hơn 4 năm. Xét tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Y đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh B.

Về phía anh B, anh đồng ý với mâu thuẫn giữa anh và chị Y như chị Y trình bày nhưng anh không đồng ý ly hôn với chị Y. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án, anh chỉ có mặt tại phiên hoà giải lần thứ nhất do Toà án tổ chức, sau đó anh luôn vắng mặt không có lý do trong các phiên hòa giải và các phiên tòa xét xử vụ án nên việc động viên, hòa giải cho anh chị đoàn tụ gia đình không thực hiện được. Xét mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Y và anh B đã thực sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, anh chị đã sống ly thân với nhau trong thời gian dài nên cần căn cứ quy định tại các Điều 51 và 56 của Luật HN&GĐ năm 2014 để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Y, xử cho chị Y được ly hôn với anh B.

Về con chung: Chị Y và anh B có 02 con chung tên Phan Tùng N, sinh ngày 17/12/2013 và Phan Bảo L, sinh ngày 25/12/2016. Sau khi ly hôn, chị Y đề nghị giao cháu L cho chị và giao cháu Nguyên cho anh B trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các cháu trưởng thành, có khả năng lao động; do mỗi người nuôi một con chung nên không bên nào phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho bên nào. Xét đề nghị này của chị Y được anh B đồng ý và phù hợp với nguyện vọng của hai con chung, phù hợp với điều kiện hoàn cảnh thực tế hiện nay của anh chị nên được HĐXX công nhận: Giao cháu L cho chị Y và giao cháu N cho anh B trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các cháu trưởng thành, có khả năng lao động; không bên nào phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho bên nào.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Y và anh B không có tài sản chung và nợ chung nên anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, HĐXX không xem xét.

Về án phí LHST: Chị Y phải chịu theo quy định là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 91, 93, 94, 95, 108, 143, 144, 147, 227, 228, 238, 266, 271 và 273 của BLTTDS năm 2015;

- Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật HN&GĐ năm 2014;

- Căn cứ vào Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Bùi Thị Như Y, xử cho chị Y được ly hôn với anh Phan Thanh B.

2. Về con chung: Công nhận thỏa thuận giữa chị Bùi Thị Như Y và anh Phan Thanh B, giao con chung là cháu Phan Tùng N, sinh ngày 17/12/2013 cho anh B và giao cháu Phan Bảo L, sinh ngày 25/12/2016 cho chị Y trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng cho đến khi các cháu trưởng thành, có khả năng lao động; do mỗi người nuôi một cháu nên không bên nào phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho bên nào.

Người không trực tiếp nuôi dưỡng con vẫn có quyền đến thăm nom con, người trực tiếp nuôi con không được cản trở nếu họ không lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con của người trực tiếp nuôi con.

Vì lợi ích của con, trong trường hợp người trực tiếp nuôi con không đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con, theo yêu cầu của một hoặc hai bên, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con. Hai đương sự đều có quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3. Về án phí LHST: Chị Y phải chịu 300.000 đồng án phí nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Y đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng phí, lệ phí Tòa án số: 0003849 ngày 27/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kbang, tỉnh Gia Lai; chị Y đã nộp đủ án phí LHST.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật, hai đương sự có quyền làm đơn kháng cáo để yêu cầu TAND tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm./.

Cỡ chữ