- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị H và anh Ngô Văn T;
- Căn cứ chính? Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 11/2023/HNGĐ-ST Ngày: 17-3-2023. V/v Tranh chấp về ly hôn; |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Lắm.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Hữu Thiện;
2. Ông Phạm Ngô Phúc Nguyên.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Tiến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dương Minh Châu tham gia phiên tòa: Ông Võ Công Đức - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 3 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Dương Minh Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 10/2022/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 01 năm 2023 về việc “Tranh chấp về ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 3 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1972; Địa chỉ: Tổ 9, ấp N, xã B, Huyện D, tỉnh Tây Ninh (có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt).
2. Bị đơn: Anh Ngô Văn T, sinh năm: 1974; Địa chỉ: Tổ 9, ấp N, xã B, Huyện D, tỉnh Tây Ninh (có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn xin ly hôn ngày 13 tháng 01 năm 2023, trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn – chị Nguyễn Thị H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh T tự nguyện chung sống vợ chồng vào năm 1993, do không hiểu biết pháp luật và do công việc nên anh chị chung sống vợ chồng nhưng không có đăng ký kết hôn. Quá trình vợ chồng chung sống thời gian đầu thì hạnh phúc đến năm 2020 bắt đầu phát sinh mâu thuẩn do tính hình không hòa hợp, thường xuyên tranh cải nên cuộc sống không có hạnh phúc; mặc dù anh chị sống chung nhà nhưng không ai quan tâm đến ai. Nay chị H nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa nên chị xin ly hôn với anh T.
Về con chung: Anh chị có 01 con chung tên Ngô Thanh T, sinh năm: 1994. Hiện con chung đã thành niên nên chị không có ý kiến hay yêu cầu tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết;
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn – anh Ngô Văn T trình bày:
Về hôn nhân: Chị H và anh T tự nguyện chung sống vợ chồng vào năm 1993 nhưng không có đăng ký kết hôn. Quá trình vợ chồng chung sống thường xuyên phát sinh mâu thuẩn do tính hình không hòa hợp. Nay chị H xin ly hôn với anh T thì anh T đồng ý.
Về con chung: Anh chị có 01 con chung tên Ngô Thanh T, sinh năm: 1994. Hiện con chung đã thành niên nên anh không có ý kiến hay yêu cầu tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết;
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dương Minh Châu phát biểu ý kiến:
Việc chấp hành pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng và đầy đủ trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự;
Về chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp theo quy định tại Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố không công nhận mối quan hệ vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị H và anh Ngô Văn T; về con chung: ghi nhận con chung đã thành niên nên anh chị không yêu cầu giải quyết; về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Án phí giải quyết theo quy định pháp luật;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và ý kiến của Đại diện viện kiểm sát, Hội đồng xét xử xét thấy:
Về tố tụng: Các đương sự có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt là phù hợp theo quy định tại Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự.
Về nội dung:
[2.1.] Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Ngô Văn T tự nguyện chung sống vợ chồng vào năm 1993 nhưng không đăng ký kết hôn. Do đó, căn cứ Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 và Mục 3 Nghị quyết 35/2000/NQ-QH10 quy định “…Nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03 tháng 01 năm 1987 đến ngày 01 tháng 01 năm 2001, mà có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này thì có nghĩa vụ đăng ký kết hôn trong thời hạn hai năm, kể từ ngày Luật này có hiệu lực cho đến ngày 01 tháng 01 năm 2003; trong thời hạn này mà họ không đăng ký kết hôn, nhưng có yêu cầu ly hôn thì Toà án áp dụng các quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết. Từ sau ngày 01 tháng 01 năm 2003 mà họ không đăng ký kết hôn thì pháp luật không công nhận họ là vợ chồng…nếu có yêu cầu ly hôn thì Toà án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng…”. Do đó, không công nhận mối quan hệ vợ chồng giữa chị H và anh T là phù hợp.
Về con chung: Ông bà có 01 con chung tên Ngô Thanh T, sinh năm: 1994. Hiện con chung đã thành niên nên anh chị không có yêu cầu tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Anh chị tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án không đặt ra xem xét, giải quyết;
Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với những tình tiết, nội dung của vụ án và quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí sơ thẩm Hôn nhân và gia đình theo quy định của pháp luật;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 14; Điều 53 và Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Điểm a, Khoản 5, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễn, giảm, nộp và quản lý sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
1. Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị H và anh Ngô Văn T;
2. Về con chung: Anh chị có 01 con chung tên Ngô Thanh T, sinh năm: 1994. Ghi nhận con chung đã thành niên nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Anh chị không có yêu cầu nên Tòa án không đặt ra xem xét, giải quyết;
4. Về án phí sơ thẩm Hôn nhân và gia đình:
Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí sơ thẩm Hôn nhân và gia đình nhưng được khấu trừ tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0012979 ngày 13-01-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh. Chị H đã nộp đủ án phí.
Anh Ngô Văn T không phải chịu tiền án phí.
5. Trong trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
6. Quyền kháng cáo: Chị H, anh T được quyền kháng cáo Bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND huyện DMC; - THADS huyện DMC; - UBND xã Bàu Năng; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẦM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Nguyễn Văn Lắm |