vanban.org

Bản án 11/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH Mua bán nợ G đối với ông Nguyễn Hồng H về tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

Buộc ông Nguyễn Hồng H có ngh a vụ thanh toán cho Công ty TNHH Mua bán nợ G toàn bộ số tiền còn nợ theo Hợp đồng tín dụng số 20170217-0001315 lập ngày 15/02/2017 giữa Công ty Tài chính TNHH MTV N với ông Nguyễn Hồng H và Hợp đồng mua bán nợ số VPBFC-CEOO-18-0005 ngày 28/9/2018 giữa Công ty TNHH Mua … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Bản án tranh chấp hợp đồng vay giữa Công ty G và ông H"
  • Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH Mua bán nợ G đối với ông Nguyễn Hồng H về tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DUY XUYÊN
TỈNH QUẢNG NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:11/2023/DS-ST
Ngày: 17/02/2023.
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DUY XUYÊN – TỈNH QUẢNG NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Sinh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Ngô Đình Lục;

2. Ông Đoàn Công Đường.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân huyên Duy Xuyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Duy Xuyên tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Tình - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 02 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Duy Xuyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 106/2022/TLST-DS ngày 24 tháng 10 năm 2022 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2022/QĐXX-ST ngày 26 tháng 12 năm 2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Công ty TNHH Mua bán nợ G.

Địa chỉ: Tầng M, Tòa nhà P, số 5 đường D, phường L, thành phố T, Thành phố H.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Duy H, sinh năm 1982 (Văn bản ủy quyền số 01/2022/UQ-SL ngày 01/9/2022).

Địa chỉ: Số 89 H, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Hồng H, sinh năm 1985, trú tại: Thôn T, xã D, huyện D, tỉnh Quảng Nam.

(Ông Nguyễn Duy H có mặt, ông Nguyễn Hồng H vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền cho nguyên đơn là ông Nguyễn Duy H trình bày:

Ngày 15/02/2017, ông Nguyễn Hồng H có ký Hợp đồng tín dụng số 20170217-0001315 với Công ty Tài chính TNHH MTV N vay số tiền 21.100.000 đồng với lãi suất thoả thuận 3,54%/tháng để tiêu dùng cá nhân. Theo thỏa thuận trong hợp đồng, ông Nguyễn Hồng H có trách nhiệm thanh toán số tiền 33.669.425 đồng (gồm cả gốc và lãi), trả chậm liên tiếp trong vòng 24 tháng; 23 tháng đầu, mỗi tháng trả 1.320.000 đồng, tháng cuối cùng 1.309.425 đồng. Bắt đầu từ ngày 20/3/2017.

Thực hiện hợp đồng, ông Nguyễn Hồng H đã nhận đủ số tiền để tiêu dùng cá nhân và thanh toán cho Công ty Tài chính TNHH MTV N 08 lần với tổng số tiền 13.320.000 đồng, bao gồm 6.777.989 đồng nợ gốc và 6.542.011 đồng nợ lãi. Kể từ ngày 11/12/2017 đến nay, bà ông Nguyễn Hồng H không thanh toán thêm bất kỳ khoản nào dù Công ty đã dùng nhiều biện pháp nhắc nhở. Ngày 28/9/2018, khoản nợ của ông Nguyễn Hồng H đã được Công ty Tài chính TNHH MTV N (nay là Công ty Tài chính TNHH N) chuyển nhượng cho Công ty TNHH Mua bán nợ G theo Hợp đồng mua bán nợ số VPBFC-CEOO-18-0005.

Do khách hàng trễ hạn thanh toán nên Công ty TNHH Mua bán nợ G khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Hồng H thanh lý hợp đồng trả một lần cho Công ty toàn bộ số tiền nợ bao gồm các khoản sau:

Trả toàn bộ khoản nợ gốc còn lại: 14.322.011 đồng;

Trả toàn bộ khoản nợ lãi tính đến ngày hết thời hạn trả nợ: 4.027.414 đồng.

Tổng số tiền Công ty khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông H phải thanh toán là: 18.349.425 đồng.

Lãi chậm thi hành án, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng theo lãi suất quy định của Bộ luật Dân sự kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Đối với bị đơn ông Nguyễn Hồng H: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập cũng như tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông H nhưng ông H không gửi cho Tòa án văn bản nêu ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, vắng mặt tại các phiên họp, phiên tòa không có lý do. Do đó, trong hồ sơ vụ án không có lời khai của ông Nguyễn Hồng H.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, các đương sự và ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Về việc tuân theo pháp luật: Toà án cấp sơ thẩm đã thụ lý và Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn đảm bảo kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án; bị đơn ông Nguyễn Hồng H không chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Nguyễn Hồng H phải trả cho Công ty TNHH Mua bán nợ G toàn bộ số tiền nợ đã vay của Công ty Tài chính TNHH MTV N bao gồm: nợ gốc là 14.322.011 đồng; nợ lãi là 4.027.414 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Công ty TNHH Mua bán nợ G khởi kiện ông Nguyễn Hồng H yêu cầu thanh toán nợ vay theo Hợp đồng tín dụng số 20170217-0001315 lập ngày 15/02/2017 với Công ty Tài chính TNHH MTV N (nay là Công ty Tài chính TNHH N) do ông Nguyễn Hồng H vi phạm ngh a vụ theo thỏa thuận trong hợp đồng. Công ty Tài chính TNHH N đã chuyển nhượng toàn bộ khoản nợ của ông Nguyễn Hồng H cho Công ty TNHH Mua bán nợ G theo Hợp đồng mua bán nợ lập ngày 28/9/2018. Do đó, Công ty TNHH Mua bán nợ G được quyền khởi kiện ông Nguyễn Hồng H đối với khoản nợ nêu trên, được xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” và Tòa án nhân dân huyện Duy Xuyên thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền, đúng quan hệ pháp luật tranh chấp theo quy định tại Điều 26, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung:

Trên cơ sở kết quả tranh tụng tại phiên tòa và tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án cho thấy:

Vào ngày 15/02/2017, ông Nguyễn Hồng H có ký Hợp đồng tín dụng số 20170217-0001315 với Công ty Tài chính TNHH MTV N để vay số tiền 21.100.000 đồng, lãi suất thoả thuận 3,54%/tháng, mục đích vay tiêu dùng cá nhân. Theo thỏa thuận trong hợp đồng, ông Nguyễn Hồng H có trách nhiệm thanh toán số tiền 33.669.425 đồng (gồm cả gốc và lãi), trả chậm liên tiếp trong vòng 24 tháng; 23 tháng đầu, mỗi tháng trả 1.320.000 đồng, tháng cuối cùng 1.309.425 đồng. Bắt đầu từ ngày 20/3/2017.

Thực hiện hợp đồng, ông Nguyễn Hồng H đã nhận đủ số tiền để tiêu dùng cá nhân và thanh toán cho Công ty Tài chính TNHH MTV N 08 lần với tổng số tiền 13.320.000 đồng, bao gồm 6.777.989 đồng nợ gốc và 6.542.011 đồng nợ lãi. Kể từ ngày 11/12/2017 đến nay, bà ông Nguyễn Hồng H không thanh toán thêm bất kỳ khoản nào dù Công ty đã dùng nhiều biện pháp nhắc nhở.

Đối chiếu hình thức và nội dung, quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng giữa hai bên và điều khoản điều kiện cho vay với quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 thì Hợp đồng tín dụng số 20170510-0006406 lập ngày 10/5/2017 được ký kết giữa ông Nguyễn Hồng H với Công ty Tài chính TNHH MTV N đảm bảo các điều kiện của pháp luật về hình thức, nội dung, mức lãi suất và điều kiện có hiệu lực pháp luật của Hợp đồng tín dụng.

Do ông Nguyễn Hồng H vi phạm ngh a vụ thanh toán theo thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng nêu trên; Công ty Tài chính TNHH N đã chuyển nhượng toàn bộ khoản nợ của ông Nguyễn Hồng H cho Công ty TNHH Mua bán nợ G theo Hợp đồng mua bán nợ số VPBFC-CEOO-18-0005 ngày 28/9/2018. Việc mua bán nợ giữa Công ty Tài chính TNHH N và Công ty TNHH Mua bán nợ G là hợp pháp. Nay, Công ty TNHH Mua bán nợ G khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Hồng H phải có ngh a vụ trả toàn bộ khoản nợ gốc còn lại là 14.322.011 đồng; nợ lãi tính đến ngày hết thời hạn trả nợ của hợp đồng vay là 4.027.414 đồng. Tổng số tiền Công ty yêu cầu là 18.349.425 đồng.

Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến nay, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án cho bị đơn ông Nguyễn Hồng H, như: Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, Quyết định đưa xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và các giấy triệu tập ông Nguyễn Hồng H. Tuy nhiên, ông Nguyễn Hồng H cố tình trốn tránh, không đến Tòa án để làm việc mặc dù ông H hiện đang cư trú tại thôn T, xã D, huyện D, tỉnh Quảng Nam. Đồng thời ông Nguyễn Hồng H không có ý kiến gì phản đối đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Vì vậy, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH Mua bán nợ G, buộc ông Nguyễn Hồng H phải có ngh a vụ thanh toán cho Công ty TNHH Mua bán nợ G toàn bộ số tiền còn nợ của Công ty Tài chính TNHH N theo Hợp đồng tín dụng số 20170217-0001315 lập ngày 15/02/2017 bao gồm: nợ gốc còn lại là 14.322.011 đồng; nợ lãi tính đến ngày hết thời hạn trả nợ của hợp đồng vay là 4.027.414 đồng. Tổng số tiền là 18.349.425 đồng.

Đối với lãi chậm thi hành án: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán lãi chậm thi hành án theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Xét thấy, mức lãi suất các bên thỏa thuận khi vay tiền là 3,54%/tháng (tương đương 42,48%/năm); từ ngày hết thời hạn trả nợ theo hợp đồng tín dụng đến ngày xét xử sơ thẩm nguyên đơn không yêu cầu bị đơn thanh toán lãi. Nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán lãi chậm thi hành án theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật là phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, ông Nguyễn Hồng H không thực hiện ngh a vụ trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì phải trả lãi tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Về án phí sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận, nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 357 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 365, Điều 463, Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 91, khoản 1 Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH Mua bán nợ G đối với ông Nguyễn Hồng H về tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

Buộc ông Nguyễn Hồng H có ngh a vụ thanh toán cho Công ty TNHH Mua bán nợ G toàn bộ số tiền còn nợ theo Hợp đồng tín dụng số 20170217-0001315 lập ngày 15/02/2017 giữa Công ty Tài chính TNHH MTV N với ông Nguyễn Hồng H và Hợp đồng mua bán nợ số VPBFC-CEOO-18-0005 ngày 28/9/2018 giữa Công ty TNHH Mua bán nợ G và Công ty Tài chính TNHH N bao gồm: nợ gốc còn lại là 14.322.011 đồng; nợ lãi là 4.027.414 đồng; tổng số tiền là 18.349.425 (mười tám triệu ba trăm bốn mươi chín ngàn bốn trăm hai lăm) đồng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, ông Nguyễn Hồng H không thực hiện ngh a vụ trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì phải trả lãi tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

2/ Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Hồng H phải chịu là 917.000 (chín trăm mười bảy ngàn) đồng. Hoàn trả cho Công ty TNHH Mua bán nợ G số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 459.000 (bốn trăm năm mươi chín ngàn) đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002224 ngày 24/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Cỡ chữ