vanban.org

Bản án 11/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Bùi Thị K.

Buộc ông Nguyễn Văn D và bà Phạm Thị Thúy H phải có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Bùi Thị Kình số tiền 70.000.000 đồng (Bảy mươi triệu đồng). (Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Kình+Dũng"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Bùi Thị K.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 357 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẮK SONG
TỈNH ĐẮK NÔNG
——————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2023/DS-ST
Ngày: 19/4/2023
“V/v tranh chấp hợp đồng vay
tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂK SONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Tâm.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đỗ Thị Hà và bà Hồ Thị Thu Uyển.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Lâm Oanh, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Ngọc Hà, chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk Song xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 321/2022/TLST-DS ngày 25/11/2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2023/QĐXXST-DS ngày 01 tháng 3 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 13/2023/QĐST-DS ngày 17/3/2023 và Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 03/2023/QĐST-DS ngày 10/4/2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Bùi Thị K – sinh năm 1958. Địa chỉ: Tổ dân phố 02, thị trấn Đức A, huyện Đăk S, tỉnh Đăk Nông – vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Đỗ Thị Duy T – sinh năm 1997. Địa chỉ: Tổ dân phố Tân L, Phường Quảng T, Thành phố Gia N, tỉnh Đăk Nông – có mặt.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn D và bà Phạm Thị Thúy H. Địa chỉ: Thôn Đăk K, xã Đăk N, huyện Đăk S, tỉnh Đăk Nông – vắng mặt.

3. Người làm chứng: Chị Phạm Thị Thúy L. Địa chỉ: Tổ dân phố 02, thị trấn Đức A, huyện Đăk S, tỉnh Đăk Nông – có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện nộp đến Tòa án ngày 07/11/2022 nguyên đơn bà Bùi Thị K và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Do quen biết với nhau nên vào ngày 16/8/2017 âm lịch bà Bùi Thị K có cho Ông Nguyễn Văn D và bà Phạm Thị Thúy H vay số tiền 70.000.000 đồng để về đầu tư làm ăn. Hai bên có viết giấy nhận nợ, không thỏa thuận lãi suất. Sau đó từ năm 2017 trở đi, vì chưa có điều kiện trả nợ nên mỗi năm ông D và bà H đều đến khất nợ. Ngày 13/01/2021 là lần cuối cùng ông D và bà H có đến nhà bà Bùi Thị K khất nợ và đồng thời viết giấy hẹn đến tháng 12/2021 sẽ trả đầy đủ số tiền trên cho nguyên đơn, hai bên không thỏa thuận lãi suất. Đến hạn trả nợ nhưng ông D và bà H không trả. Vì vậy, nguyên đơn đề nghị Tòa án buộc bị đơn phải có nghĩa vụ liên đới trả số tiền trên và không yêu cầu tính lãi suất.

Tại phiên tòa nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện của mình.

* Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Nguyễn Văn D vắng mặt, bà Phạm Thị Thúy H trình bày:

Giữa bà H và bà K có mối quan hệ quen biết, không có họ hàng gì. Bà H thừa nhận bà và ông Nguyễn Văn D có vay của bà Bùi Thị K số tiền 70.000.000 đồng. Ngày 13/01/2021 bị đơn có viết giấy khất nợ (giấy này do ông Nguyễn Văn D viết), hai bên không thỏa thuận lãi suất, hẹn đến tháng 12 năm 2021 bị đơn sẽ trả tiền cho nguyên đơn. Số tiền này bà H trực tiếp nhận từ bà K tại nhà bà K thuộc Tổ dân phố 02, thị trấn Đức A, huyện Đăk S, tỉnh Đăk Nông. Sau khi vay tiền của bà K về, bị đơn đã cho bà N, trú tại thôn Đăk K, xã Đăk N, huyện Đăk S, tỉnh Đăk Nông vay lại. Đến nay, bà N chưa trả được số tiền đó cho bị đơn nên bị đơn chưa trả được cho nguyên đơn. Trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bị đơn trình bày do hoàn cảnh khó khăn nên mong muốn trả cho nguyên đơn theo từng đợt.

* Người làm chứng chị Phạm Thị Thúy L trình bày:

Ngày 16/8/2017 bà Bùi Thị K là mẹ đẻ của chị L có cho ông Nguyễn Văn D và bà Phạm Thị Thúy H vay số tiền 70.000.000 đồng. Chị L có chứng kiến việc vay tiền này nên có tên trong giấy vay tiền. Đây là số tiền của bà K chứ chị L không có khoản tiền nào trong đó. Trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chị L đề nghị Tòa án buộc ông D và bà H phải có trách nhiệm trả nợ cho bà K. Chị L không yêu cầu gì đối với số tiền này.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và sự tuân theo pháp luật tố tụng của nguyên đơn, bị đơn trong vụ án:

Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử: Đã thực hiện hoạt động tố tụng đầy đủ từ quá trình thụ lý, lập hồ sơ vụ án; Xác định đúng quan hệ tranh chấp giữa các bên; Tiến hành thu thập chứng cứ, tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ; Thẩm phán đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Tại phiên tòa, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng thủ tục, trình tự xét xử. Hội đồng xét xử đúng thành phần, không có trường hợp nào phải thay đổi người tiến hành tố tụng, Hội đồng xét xử đã hỏi và tranh luận tại phiên tòa đúng theo quy định của pháp luật.

Về việc chấp hành pháp luật của các đương sự: Nguyên đơn đã chấp hành đầy đủ các quy định, quyền và nghĩa vụ của mình. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện đầy đủ việc cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với bị đơn chưa chấp hành việc tham gia các phiên đối chất, phiên họp về việc tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải tại Tòa án.

Về nội dung: Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 144, khoản 1 Điều 147, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tu ̣ng dân sự. Căn cứ Điều 357, Điều 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự 2015 và Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của bà Bùi Thị K, buộc ông Nguyễn Văn D và bà Phạm Thị Thúy H trả cho bà Bùi Thị K số tiền 70.000.000 đồng. Ngoài ra, bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Ý kiến khắc phục khác: Không.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết tranh chấp: Bà Bùi Thị K khởi kiện ông Nguyễn Văn D và bà Phạm Thị Thúy H trả nợ theo nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng vay tài sản. Vì vậy, quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” được quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự (viết tắt BLTTDS). Ông Nguyễn Văn D và bà Phạm Thị Thúy H đang cư trú tại: Thôn Đăk K, xã Đăk N, huyện Đăk S, tỉnh Đăk Nông. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông theo điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS.

[2]. Về thời hiệu khởi kiện: Căn cứ vào giấy vay tiền lập ngày 13/01/2021, thời hạn thỏa thuận trả nợ là tháng 12 năm 2021. Kể từ thời điểm ông Nguyễn Văn D và bà Phạm Thị Thúy H vi phạm nghĩa vụ trả nợ đến thời điểm bà Bùi Thị K gửi đơn khởi kiện đến Tòa án ngày 07/11/2022 vẫn đảm bảo thời hiệu khởi kiện theo Điều 429 Bộ luật Dân sự 2015.

[3]. Xét nội dung tranh chấp:

. Về số nợ và nghĩa vụ thanh toán:

Xét giấy vay tiền lập ngày 13/01/2021, thời hạn thỏa thuận trả nợ là tháng 12 năm 2021 do bị đơn ký nhận thể hiện bị đơn có vay của nguyên đơn số tiền 70.000.000 đồng. Việc giao nhận tiền diễn ra tại nhà nguyên đơn thuộc Tổ dân phố 02, thị trấn Đức A, huyện Đắk S, tỉnh Đắk Nông. Trong quá trình giải quyết vụ án các đương sự đều trình bày khi thực hiện hợp đồng vay tiền đều từ nguyện, không bị ai ép buộc.

Tại Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự quy định:

“1. Những tình tiết, sự kiện sau đây không phải chứng minh:

a) Những tình tiết, sự kiện rõ ràng mà mọi người đều biết và được Tòa án thừa nhận…”. Xét giấy vay tiền lập ngày 13/01/2021, hẹn tháng 9 năm 2021 trả nợ, đây là hợp đồng vay có kỳ hạn, có xác nhận của các đương sự, không trái đạo đức, không trái quy định của pháp luật và các đương sự đều thừa nhận giấy tờ này là có thực nên tình tiết này không phải chứng minh.

Tại Điều 463 BLDS quy định:

“Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.”

Trong quá trình giải quyết vụ án TAND huyện Đắk Song đã tống đạt các văn bản tố tụng, thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập và thông báo về phiên đối chất; Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho bà Phạm Thị Thúy H (vợ ông Nguyễn Văn D nhận thay); Quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa, quyết định tạm ngừng phiên tòa để làm rõ nội dung vụ án. Tuy nhiên, bị đơn ông Nguyễn Văn D và bà Phạm Thị Thúy H không đến Tòa án làm việc. Bị đơn đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng không đến Tòa án làm việc coi như từ bỏ quyền của mình và phải chịu nghĩa vụ liên quan đến giao dịch dân sự mà mình đã ký kết.

Theo khoản 4 Điều 91 của Bộ Luật tố tụng Dân sự quy định:“Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc”. Do đó, căn cứ khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn. Căn cứ vào giấy lập ngày 13/01/2021 bị đơn vay của nguyên đơn số tiền là 70.000.000 đồng (Bảy mươi triệu đồng), đến nay bị đơn chưa trả cho nguyên đơn. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, buộc bị đơn phải có nghĩa vụ liên đới trả nợ cho nguyên đơn mới phù hợp với quy định của pháp luật.

Về lãi suất: Nguyên đơn không yêu cầu tính lãi suất nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Xét quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song là phù hợp nên chấp nhận.

. Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị K được chấp nhận, bị đơn phải chịu án phí theo quy định pháp luật là 70.000.000 đồng x 5% = 3.500.000 đồng.

Hoàn trả cho bà Bùi Thị K số tiền nộp tạm ứng án phí đã nộp là 1.750.000 đồng theo biên lai số 0001781 ngày 22/11/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông.

. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 144, khoản 1 Điều 147, Điều 271, Điều 273 của Bô ̣ luâ ̣t Tố tu ̣ng dân sự.

Áp dụng Điều 357, Điều 463, Điều 466, Điều 468; Điều 470 của Bộ luật dân sự 2015 và Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Bùi Thị K.

Buộc ông Nguyễn Văn D và bà Phạm Thị Thúy H phải có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Bùi Thị Kình số tiền 70.000.000 đồng (Bảy mươi triệu đồng).

(Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án), cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357; khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015).

2. Về án phí: Buộc ông Nguyễn Văn D và bà Phạm Thị Thúy H phải nộp 3.500.000 đồng (Ba triệu năm trăm nghìn đồng) án phí Dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả cho bà Bùi Thị K khoản tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.750.000 đồng theo biên lai số 0001781 ngày 22/11/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông.

3.Về quyền kháng cáo:

Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án tống đạt hợp lệ.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a,7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án”. Nơi nhận

̀

Cỡ chữ