vanban.org

Bản án 11/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị V đối với anh Vũ Thế H, về việc yêu cầu Vũ Thế H phải trả tổng số tiền là 363.

Kể từ ngày chị Nguyễn Thị V có đơn yêu cầu thi hành án tương ứng với số tiền nêu trên, nếu anh Vũ Thế H không trả khoản tiền nêu trên thì còn phải trả lãi tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự. Về án phí: Anh Vũ Thế H phải chịu số tiền án p… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Nguyễn Thị V-Vũ Thế H"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị V đối với anh Vũ Thế H, về việc yêu cầu Vũ Thế H phải trả tổng số tiền là 363.
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẮK GLONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐẮK NÔNG
Bản án số: 11/2023/DS- ST
Ngày 30-8-2023
“V/v Tranh chấp hợp đồng vay
tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK GLONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Đình Hưng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Lượng và ông Phạm Xuân Đức

- Thư ký phiên tòa: Bà Kiều Thị Thành – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông tham gia phiên tòa: Bà Lang Thị Tố - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 01/2023/TLST-DS, ngày 03 tháng 01 năm 2023 về: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2023/QĐXX-ST, ngày 25 tháng 7 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 11/2023/QĐST-DS, ngày 14 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị V, sinh năm 1970; địa chỉ: Thôn Q (thôn 8), xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, có mặt.

- Bị đơn: Anh Vũ Thế H, sinh năm 1997; địa chỉ: Bon P (thôn 2), xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, vắng mặt.

- Người tham gia tố tụng khác:

Người làm chứng: Anh Phạm Xuân Tuấn A, sinh năm 1993; địa chỉ: Thôn Q (thôn 8), xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 08 tháng 12 năm 2022, quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà nguyên đơn chị Nguyễn Thị V trình bày:

Ngày 22-6-2018 anh Vũ Thế H có vay của chị Nguyễn Thị V số tiền 240.000.000 đồng tại nhà chị V thuộc thôn 8 (thôn Q), xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; khi cho vay hai bên không thoả thuận trả lãi, thời hạn vay 15 ngày, khi vay anh H có thế chấp 01 sổ hộ khẩu, 01 giấy chứng minh nhân dân và 01 xe ô tô nhãn hiệu Chevelet, loại Colorado màu xanh, thời điểm cho vay có anh Phạm Xuân Tuấn A làm chứng; đến thời hạn trả nợ nhưng anh H không trả, kể từ sau thời điểm cho vay tiền đến nay chị V không gặp và không liên lạc được với anh H, đối với xe ô tô sau này chị V mới biết là của bạn anh H, người này đã đến và yêu cầu chị V trả lại xe ô tô. Do anh H không chịu trả khoản tiền vay nêu trên nên chị V khởi kiện, yêu cầu anh H trả khoản tiền vay là 240.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh kể từ ngày 08-7-2018 đến ngày Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Trong quá trình làm việc, Toà án đã tống đạt trực tiếp giấy triệu tập đến anh H, mời anh H làm việc liên quan đến nội dung đơn khởi kiện, tuy nhiên anh H không hợp tác làm việc và hiện nay đã bỏ đi khỏi địa phương, do đó Toà án tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng và giải quyết vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và của nguyên đơn, trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc anh Vũ Thế H phải trả cho nguyên đơn số tiền gốc đã vay là 240.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

. Xác định quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị V yêu cầu bị đơn anh Vũ Thế H, thường trú tại thôn 2 (bon P, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông trả số tiền đã vay 240.000.000đ. Vì vậy, tranh chấp giữa các đương sự là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đắk Glong theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị V yêu cầu anh Vũ Thế H phải trả số tiền gốc đã vay là 240.000.000 đồng, Hội đồng xét xử nhận định:

. Xét lời khai của nguyên đơn trình bày, ngày 22-6-2018 nguyên đơn cho bị đơn vay số tiền 240.000.000 đồng, khi vay tiền chỉ có mặt nguyên đơn, bị đơn, có người làm chứng anh Phạm Xuân Tuấn A; các bên có lập hợp đồng viết tay, hợp đồng do anh Vũ Thế H viết và ký. Chị V cung cấp cho Toà án giấy vay tiền.

. Xét quá trình làm việc, Toà án đã tống đạt trực tiếp giấy triệu tập, mời anh H làm việc nhưng anh H không hợp tác làm việc, nên Toà án không ghi nhận được ý kiến của anh H về các vấn đề nguyên đơn khởi kiện.

. Căn cứ giấy vay tiền được viết tay ngày 22-6-2018 thể hiện, anh Vũ Thế H có vay của chị Nguyễn Thị V số tiền 240.000.000 đồng, anh H có thế chấp một xe ô tô nhãn hiệu Chevelet, số loại Colorado; hẹn 15 ngày sau sẽ trả, có chữ ký của anh H, mặt sau của giấy viết tay có chữ viết “Tôi đã nhận đủ tiền” và có chữ ký của anh H.

. Tại bản tự khai của người làm chứng anh Tuấn A trình bày, khi anh đang đi làm thì mẹ anh gọi điện về để nhận cắm xe, tuy nhiên anh không đồng ý, tuy nhiên do sức ép từ bố anh (ông Phạm Xuân T đã chết) nên mẹ anh nhận cắm xe và có yêu cầu anh H viết giấy, sau đó mẹ anh giao tiền mặt cho anh H số tiền là 240.000.000 đồng, anh H có để lại giấy chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu và giấy đăng ký xe, tuy nhiên sau này phát hiện xe ô tô không phải của anh H nên gia đình anh đã trả lại xe ô tô, kể từ khi vay đến nay thì gia đình anh không liên lạc được với anh H.

Như vậy, Hội đồng xét xử có căn cứ để xác định, chị Nguyễn Thị V có cho anh Vũ Thế H vay số tiền mặt là 240.000.000 đồng, giao nhận tiền tại nhà chị V. Do anh H vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo quy định tại Điều 466 của Bộ luật Dân sự, quy định nghĩa vụ của bên vay “Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn…” nên chị V khởi kiện, yêu cầu Toà án buộc anh H phải trả số tiền gốc đã vay là có căn cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận.

. Xét yêu cầu tính lãi suất của nguyên đơn đối với số tiền 240.000.000 đồng kể từ ngày hết thời hạn bị đơn cam kết trả nợ (sau 15 ngày, kể từ ngày cho vay), lãi tính từ ngày 8-7-2018 (dương lịch) đến ngày Toà án giải quyết với mức lãi suất 10%/năm.

Xét thấy, giấy vay tiền ngày 22-6-2018 giữa các bên không thể hiện việc cho vay có trả lãi, do đó nguyên đơn yêu cầu mức lãi theo quy định, cụ thể theo quy định tại khoản 4 Điều 466; khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự, quy định mức lãi trong trường hợp các bên không thoả thuận lãi suất là 10%/năm. Kể từ thời điểm vi phạm nghĩa vụ trả nợ (ngày 08-7-2018) đến ngày giải quyết (xét xử 30-8-2023) là 05 năm 01 tháng 21 ngày. Cụ thể buộc bị đơn phải chịu khoản tiền lãi là 123.400.000 đồng (05 năm 01 tháng 21 ngày x 10%/năm x 240.000.000 đồng).

Tổng số tiền bị đơn phải trả cho nguyên đơn là 363.400.000 đồng (trong đó tiền gốc là 240.000.000 đồng, tiền lãi là 123.400.000 đồng.

. Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong là có căn cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận.

. Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên buộc bị đơn phải chịu án phí đối với toàn bộ yêu cầu của được chấp nhận theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 96; Điều 144 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 463, 466, Điều 468 của Bộ luật dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị V đối với anh Vũ Thế H, về việc yêu cầu Vũ Thế H phải trả tổng số tiền là 363.400.000 đồng (trong đó số tiền gốc là 240.000.000 đồng và tiền lãi suất theo quy định của pháp luật là 123.400.000 đồng).

Kể từ ngày chị Nguyễn Thị V có đơn yêu cầu thi hành án tương ứng với số tiền nêu trên, nếu anh Vũ Thế H không trả khoản tiền nêu trên thì còn phải trả lãi tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

2. Về án phí: Anh Vũ Thế H phải chịu số tiền án phí dân sự sơ thẩm là 18.170.000 đồng (mười tám triệu một trăm bảy mươi nghìn đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông.

Chị Nguyễn Thị V được hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 6.000.000 đồng, theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0004382, ngày 03 tháng 01 năm 2023.

Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định là 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ