- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đ. V. D - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
- Tòa quyết gì? Điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM GIÀNG TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 11/2022/HSST Ngày 22/02/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM GIÀNG, TỈNH HẢI DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thiện Phán.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quang Miên và bà Vũ Thị Thủy.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Việt D - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hạnh - Kiểm sát viên
Ngày 22 tháng 02 năm 2022, tại Tòa án nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 05/2022/HSST ngày 18/01/2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2022/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 02 năm 2022 đối với bị cáo: Đ. V. D, sinh năm 1997. Nơi sinh và cư trú: Khu 7, thị trấn Thanh Hà, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đ. V. H và bà N. T. M. Tiền sự, tiền án: Không
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 27/12/2021, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương. Có mặt.
* Người làm chứng:
- Chị K. H' H, sinh năm 2002. Vắng mặt.
- Ông N. V. T, sinh năm 1967. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đ. V. D là người sử dụng ma túy. Tối ngày 22/12/2021, D thuê xe ôm của một người (không biết tên, địa chỉ) đi từ thôn Quý Dương, xã Tân Trường, huyện Cẩm Giàng đến khu vực cổng khu công nghiệp Đại An, phường Tứ Minh,
Trang 1 thành phố Hải Dương. Tại đây, D mua của một người đàn ông (không rõ tên, địa chỉ) 03 viên ma túy thuốc lắc dạng viên màu xanh và 02 túi ma túy Ketamine để trong một vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu "555" với số tiền 4.000.000 đồng. D cất vỏ bao thuốc lá đựng ma túy vào trong túi quần bên phải, rồi đi xe ôm về thôn Quý Dương, xã Tân Trường; D rủ chị K. H. H, sinh năm 2002 là bạn đi chơi. Đến 22 giờ cùng ngày, khi D và chị H đang đi trên đường trong khu đô thị mới xã Tân Trường, huyện Cẩm Giàng, thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương kiểm tra, thu giữ trong túi quần bên phải của Đ. V. D 01vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu 555, bên trong có 01 túi nilon màu trắng có viền màu đỏ, kích thước (4x6)cm chứa 03 viên nén màu xanh và 02 túi nilon màu trắng, miệng túi viền màu xanh kích thước (2,5x2,5) cm, bên trong chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng dạng cục. D khai nhận đây là ma túy tổng hợp D cất giấu với mục đích để sử dụng.
Tại Kết luận giám định số: 76/KLGĐ-PC09 ngày 24/12/2021, Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dương kết luận: 03 viên nén màu xanh trong túi nilon màu trắng được niêm phong trong phong bì, ghi thu của Đ. V. D, gửi đến giám định có tổng khối lượng 1,108g là ma túy, loại MDMA. Chất rắn dạng tinh thể màu trắng trong 02 túi nilon màu trắng có tổng khối lượng 1,334g, là ma túy, loại Ketamine.
Quá trình điều tra: Bị cáo thành khẩn khai báo, nhận hành vi phạm tội.
Tại bản Cáo trạng số: 11/CT-VKS ngày 17/01/2022, VKSND huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo Đ. V. D phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình thừa nhận có cất giấu ma túy để sử dụng.
Kiểm sát viên thực hành quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung bản cáo trạng nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Đ. V. D phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 BLHS. Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Toà án. Xử phạt bị cáo Đ. V. D từ 27 tháng đến 30 tháng tù, thời hạn tính từ ngày 27/12/2021.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a,c khoản 2 Điều 106 BLTTHS, tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì thư đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định, số: 76/KTGĐ-PC09 của Phòng hình sự Công an tỉnh Hải Dương, bên trong có: 1,035g ma túy, loại MDMA; 1,270gam ma túy loại Ketamine; 03 vỏ
Trang 2 túi nilon mầu trắng, còn nguyên niêm phong và 01 vỏ bao thuốc lá 555 mầu xanh (theo Biên bản giao, nhận vật chứng).
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí sơ thẩm hình sự.
Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tố tụng: Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã tuân thủ đúng các quy định pháp luật. Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.
. Về nội dung vụ án:
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai người làm chứng, tang vật chứng đã thu giữ. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Hồi 22 giờ ngày 22/12/2021, tại đường trong khu đô thị mới xã Tân Trường, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương, Đ. V. D có hành vi cất giấu trái phép 1,108 gam ma túy, là loại MDMA và 1,334gam ma túy loại Ketamine trong túi quần bên phải phải, với mục đích để sử dụng, thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức việc cất giữ trái phép chất ma túy để sử dụng là vi phạm pháp luật, song để thỏa mãn nhu cầu của bản thân bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi cất giấu trái phép 1,108 gam ma túy, là loại MDMA và 1,334g ma túy, loại Ketamine của bị cáo để sử dụng, đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 249 BLHS. Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm i khoản 1 Điều 249 BLHS là có căn cứ.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, làm mất trật tự trị an trên địa bàn địa pH. Vì vậy, cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo, nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
. Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hướng xử lý:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có.
Trang 3
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo. Vì vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Nhưng xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, buộc bị cáo phải chấp hành tù có thời hạn.
.Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
.Về vật chứng: 01 phong bì niêm phong số: 76/KLGĐ-PC09, bên trong chứa ma túy cùng ba vỏ túi nilon và 01 vỏ bao thuốc lá, mẫu vật hoàn lại sau khi giám định là vật Nhà nước cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng cần tịch thu, tiêu hủy theo điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS và điểm a,c khoản 2 Điều 106 BLTTHS.
.Về các vấn đề khác:
Người đàn ông lái xe ôm chở D đi mua ma túy và người đàn ông theo D khai là người bán ma túy cho D, nhưng không làm rõ tên, địa chỉ nên chưa có căn cứ xử lý.
Chị Kros H' H không biết D đi mua và cất giấu ma túy nên không có căn cứ xử lý.
Về án phí: Bị cáo bị kết án, phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết về án phí, lệ phí Toà án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ áp dụng:
Điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
2. Tuyên bố bị cáo Đ. V. D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Xử phạt bị cáo Đ. V. D 21(hai mươi mốt) tháng tù, thời hạn tính từ ngày 27/12/2021.
3. Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a,c khoản 2 Điều 106 BLTTHS, tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì thư đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định số: 76/KLGĐ-PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dương bên trong có 1,035 gam ma túy, loại MDMA; 1,270gam ma túy loại Ketamine; 03 vỏ túi nilo mầu trắng, còn nguyên niêm phong và 01 vỏ bao thuốc lá 555 mầu xanh.
Trang 4
(Vật chứng theo Biên bản bàn giao giữa Công an huyện Cẩm Giàng và Chi cục THA DS huyện Cẩm Giàng ngày 20/01/2022).
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Toà án. Bị cáo Đ. V. D phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Cơ quan điều tra Công an huyện Cẩm Giàng; - Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng; - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Giàng; - Sở tư pháp tỉnh Hải Dương; - Cơ quan THA hình sự-Công an tỉnh Hải Dương; - Trại tạm giam CA tỉnh Hải Dương; - Lưu hồ sơ. Trang 5 | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thiện Phán |