vanban.org

Bản án 11/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị Tuyên án 14/07/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hoàng Thái phạm tội "Tàng trử trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ Q
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
TỈNH QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2022/HS-ST
Ngày 14 – 7 - 2022.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ Q, TỈNH QUẢNG TRỊ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Hạnh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Thanh Lịch và bà Lê Thị Ngọc Anh.

- Thư ký phiên tòa:Ông Trần Phú - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Q, tỉnh Quảng Trị.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Q tham gia phiên tòa:Bà Phạm Thị Thuỷ

- Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Q, tỉnh Quảng Trị xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 09/2022/TLST-HS ngày 18 tháng 5 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2022/QĐXXST-HS ngày 01/7/2022, đối với bị cáo:

Nguyễn Hoàng T. Tên gọi khác: Bờm; sinh ngày 02/11/1997; nơi cư trú: Thôn An Trú, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Không nghề; trình độ học vấn: lớp 11/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân H, sinh năm 1955 (đã chết) và bà Lê Thị V, sinh năm 1959; trú tại: Thôn An Trú, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Q và tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Trị từ ngày 23/12/2021 cho đến nay - Có mặt.

Người tham gia tố tụng khác:

Người làm chứng: Anh Ngô Văn Anh K; sinh ngày 14/8/1989; nơi cư trú: Khu phố 3, phường 1, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên khoảng 11 giờ 30 phút ngày 23/12/2021, bị cáo Nguyễn Hoàng T một mình đi bộ từ nhà ở thôn An Trú, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị ra cổng làng An Trú tìm gặp và đã mua 04 viên ma túy tổng hợp được bỏ trong 01 đoạn ống nhựa màu vàng với giá 400.000 đồng của một người đàn ông tên Tý nhưng không rõ tên tuổi, địa chỉ cụ thể của người này. Sau đó, bị cáo T thuê xe taxi biển kiểm soát 74A-066.92 do anh Ngô Văn Anh K điều khiển chở bị cáo T đến nhà nghỉ Bi Linh, thuộc khu phố 7, phường 3, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị mục đích thuê phòng để sử dụng ma túy. Đến 12 giờ 15 phút ngày 23/12/2021, khi xe taxi chở bị cáo T đến đoạn đường bê tông phía trước nhà nghỉ Bi Linh, bị cáo T xuống xe đi bộ đến trước nhà nghỉ Bi Linh thì bị lực lượng Công an thị xã Q phát hiện bắt quả tang bị cáo T đang cất dấu trong người một đoạn ống nhựa màu vàng bên trong có 04 viên nén màu hồng.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tạm giữ gồm: 04 (bốn) viên nén màu hồng; 01 (một) đoạn ống nhựa màu vàng có kích thước (05 x 01) cm; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105, màu đen, máy đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong; 01 (một) chứng minh nhân dân số 197365712 mang tên Nguyễn Hoàng T. Cơ quan điều tra đã xác định 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105, màu đen; 01 (một) chứng minh nhân dân số 197365712 mang tên Nguyễn Hoàng T là tài sản, giấy tờ của bị cáo Nguyễn Hoàng T không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cơ quan điều tra đã trả lại cho bị cáo Nguyễn Hoàng T. Vật chứng còn lại hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Q.

Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã Q ra Quyết định trưng cầu giám định về chất ma túy đối với 04 (bốn) viên nén màu hồng đã thu giữ. Tại bản Kết luận giám định số: 30/KLGĐ-KTHS ngày 27/12/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Quảng Trị kết luận: “04 viên nén màu hồng được niêm phong trong phong bì ký hiệu MT1 gửi đến giám định có khối lượng 0,4194g (không phẩy bốn một chín bốn gam) là ma túy loại Methamphetamine”.

Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh người đàn ông tên Tý là người bán ma túy cho bị cáo T nhưng cho đến nay vẫn chưa có kết quả. Cơ quan điều tra đang tiếp tục xác minh, khi nào xác định được danh tính và chứng minh được hành vi mua bán trái phép chất ma túy của người đàn ông này sẽ xử lý bằng một vụ án khác.

Đối với anh Nguyễn Văn Anh Khoa tài xế xe taxi biển kiểm soát 74A-066.92 chở bị cáo T đến nhà nghỉ Bi Linh nhưng anh Khoa không biết bị cáo T cất giấu ma túy trong người nên anh Khoa không chịu trách nhiệm hình sự.

Tại bản cáo trạng số: 08/CT-VKS-TXQT ngày 18/5/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Q, tỉnh Quảng Trị truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Q giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng T từ 12 tháng đến 15 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 23/12/2021.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị tuyên: Tịch thu tiêu hủy gồm: 01 (một) túi niêm phong có mã số PS3A 1908286, bên ngoài có hình dấu của phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị và có chữ ký của những người tham gia niêm phong; 01 (một) túi niêm phong có mã số PS3A 103679, bên ngoài có hình dấu của phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị và có chữ ký của những người tham gia niêm phong.

Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Vào hồi 12 giờ 15 phút, ngày 23/12/2021, tại đoạn đường trước nhà nghỉ Bi Linh, thuộc khu phố 7, phường 3, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị, Công an thị xã Q bắt quả tang bị cáo Nguyễn Hoàng T tàng trữ trái phép 04 (bốn) viên ma túy tổng hợp loại Methamphetamine có khối lượng lượng 0,4194g (không phẩy bốn một chín bốn gam) đã được kết luận tại bản Kết luận giám định số: 30/KLGĐ-KTHS ngày 27/12/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Quảng Trị. Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục II, STT: 323 của Nghị định số: 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã nhận thức được sai phạm của mình nên đã thành khẩn khai báo, phù hợp với những tài liệu, vật chứng có trong hồ sơ vụ án. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy Viện kiểm sát nhân dân thị xã Q truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức về pháp luật nhưng lại thực hiện hành vi tàng trữ ma túy nhằm mục đích sử dụng cá nhân. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý Nhà nước về chất ma túy, làm mất trật tự trị an, gây ảnh hưởng xấu đến dư luận quần chúng nhân dân sinh sống trên địa bàn nên cần xử phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên cần xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bố của bị cáo được Nhà nước tặng huy chương chiến sĩ vẻ vang do có thời gian phục vụ trong lực lượng vũ trang nhân dân, góp phần xây dựng Quân đội, củng cố Quốc phòng và bảo vệ tổ quốc nên cần được xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xét thấy, bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên cần xử phạt bị cáo với mức khởi điểm của khung hình phạt cũng đủ tác dụng răn đe, giáp dục bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Vật chứng hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Q gồm: 01 (một) túi niêm phong có mã số PS3A 1908286, bên ngoài có hình dấu của phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị và có chữ ký của những người tham gia niêm phong; 01 (một) túi niêm phong có mã số PS3A 103679, bên ngoài có hình dấu của phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị và có chữ ký của những người tham gia niêm phong. Xét thấy đây là vật cấm tàng trữ, vật bị cáo dùng để đựng ma tuý, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy (Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự).

Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam nên cần tiếp tục ra quyết định tạm giam đối với các bị cáo để đảm bảo chấp hành án (Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự).

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Q, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng T (Tên gọi khác: Bờm), phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng T 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 23/12/2021.

2. Về xử lý vật chứng:

Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy: 01 (một) túi niêm phong có mã số PS3A 1908286, bên ngoài có hình dấu của phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị và có chữ ký của những người tham gia niêm phong; 01 (một) túi niêm phong có mã số PS3A 103679, bên ngoài có hình dấu của phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị và có chữ ký của những người tham gia niêm phong Vật chứng hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Q, tỉnh Quảng Trị theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/5/2022 giữa Công an thị xã Q và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Q.

3. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Nguyễn Hoàng T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ