vanban.org

Bản án 11/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Hải Dương, tỉnh Hải Dương Tuyên án 16/02/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

.............................................................................................................. ... ............................................................................................................................. ...

(31) ........................................................................................................................................... ………………………………………………………………………………………... Hướng dẫn sử dụng mẫu số 27-HS: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị H - Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? .............................................................................................................. ... ............................................................................................................................. ...
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 35 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:11/2022/HS-ST
Ngày:16/02/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG – TỈNH HẢI DƯƠNG

Thành phần những người tiến hành tố tụng gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Quang Minh.

Thư ký phiên toà: Ông Bùi Hải Long - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Nhiệm - Kiểm sát viên sơ cấp.

Ngày 16 tháng 02 năm 2022 tại Phòng xử án - Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương, xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục rút gọn vụ án hình sự thụ lý số 17/2022/HSST ngày 28 tháng 01 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2022/HSST-QĐ ngày 09/02/2022 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị H, sinh năm 1984.

Nơi cư trú: 95 phố ChC, khu 1, phường VH, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương. Nghề nghiệp: Lao động tự do.Trình độ văn hóa (học vấn): 8/12. Dân tộc: Kinh. Giới tính: Nữ. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Nguyễn Khắc Trào (đã chết) và bà Nguyễn Thị L. Có chồng là Ngô Đức T và 01 con sinh năm 2012.Tiền án, tiền sự: Không. Bị tạm giữ từ ngày 16/12/2021 đến 19/12/2021 thay thế bằng biện pháp ngăn chặn áp dụng Lệnh Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

Người làm chứng:

- Anh Vũ Việt A, sinh năm 1992. Địa chỉ: 5/167 PĐP, khu 1, phường CT, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt.

- Anh Phạm Phú T, sinh năm 1976. Địa chỉ: Khu 3, phường NC, TP. Hải Dương, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt.

- Anh Nguyễn Minh Cường, sinh năm 1963. Địa chỉ: 203A Nguyễn Thượng Mẫn, phường Bình Hàn, TP. Hải Dương, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau :

Khoảng 17 giờ 45 phút ngày 16/12/2021 tại số 478 phố VH, phường VH, thành phố Hải Dương, Nguyễn Thị H đang đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức bán số lô, số đề trái phép cho anh Vũ Việt A. Địa chỉ: Khu 1, phường CT, thành phố Hải Dương với số tiền 2.000.000 đồng và anh Phạm Phú T. Địa chỉ: Khu 3 phường NC, TP. Hải Dương với số tiền 3.200.000 đồng. Tổng số tiền sử dụng vào việc đánh bạc là 5.200.000 đồng thì bị Đội cảnh sát điều tra về trật tự xã hội Công an thành phố Hải Dương phát hiện bắt quả tang thu giữ vật chứng. Ngoài ra Công an còn thu giữ của Hạnh số tiền 3.690.000 đồng Hạnh khai là tiền của khách mua số lô tô và số lô, số đề.

Hình thức đánh bạc: Sau khi người chơi mua các số lô, số đề của Hạnh thì được so với kết quả xổ số kiến thiết miền bắc mở thưởng vào tối cùng ngày. Nếu số đề trùng với hai số cuối của giải đặc biệt thì người chơi thắng và ngược lại, số lô được so với hai số cuối của tất cả các giải nếu trùng thì người chơi thắng và ngược lại. Một điểm lô tương đương với 20.000đ nếu trúng thì được ăn 70.000đ còn số đề 1.000đ được ăn 77.000đ.

Vật chứng: Đối với 06 mảnh giấy kích thước 6x8cm được cắt từ ½ vé số lô tô trên mặt sau có ghi các số lô, số đề và 01 tập giấy trắng được quản lý trong hồ sơ vụ án; 01 bút bi; 01 điện thoại Iphone 6 được quản lý tại kho vật chứng của công an thành phố Hải Dương và số tiền 8.890.000đ đang được quản lý tại Kho bạc nhà nước tỉnh Hải Dương chờ xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 02/VKS-HS ngày 26/01/2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương truy tố Nguyễn Thị H về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo Hạnh đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình: Bị cáo công nhận Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương là đúng. Bị cáo đề nghị sung vào ngân sách nhà nước số tiền bị thu giữ 3.690.000 đồng.

Trong phần tranh luận Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương thực hành quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích đánh giá chứng cứ, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra cho xã hội cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã kết luận về vụ án, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Tòa án.

+ Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “Đánh bạc”.

+ Về hình phạt:

- Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51; điểm b khoản 1 Điều 32, khoản 1 Điều 35 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Phạt tiền bị cáo Nguyễn Thị H từ 22.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng sung ngân sách nhà nước.

+ Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 5.200.000 đồng.

- Tịch thu tiêu hủy 01 bút bi nhãn hiệu Matixs fo-024 mực viết màu xanh.

- Tịch thu cho phát mại sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại iphone màu trắng số IMEI 359302062097552.

- Sung vào ngân sách nhà nước số tiền 3.690.000 đồng.

Lưu giữ tại hồ sơ vụ án: 06 mảnh giấy kích thước 6x8cm được cắt từ ½ tờ vé lô tô trên mặt sau có ghi các số lô, số đề và 01 tập giấy trắng để làm tài liệu căn cứ của vụ án.

+ Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải trả 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến gì với phần kết luận và không tham gia tranh luận với Đại diện viện kiểm sát.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi của bị cáo là sai trái, bị cáo lần đầu phạm tội nên mong Tòa khoan hồng cho bị cáo hưởng mức hình phạt thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:

Về những chứng cứ xác định có tội và điều luật áp dụng đối với bị cáo: Xét thấy các chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa như: Biên bản phạm tội quả tang, lời khai của bị cáo, người làm chứng tại cơ quan điều tra phù hợp với lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay. Nên đã có đủ căn cứ kết luận:

Khoảng 17 giờ 45 phút ngày 16/12/2021 tại số 478 phố VH, phường VH, thành phố Hải Dương, Nguyễn Thị H đang đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức bán số lô, số đề trái phép cho anh Vũ Việt A và anh Phạm Phú T. Tổng số tiền sử dụng vào việc đánh bạc là 5.200.000 đồng thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang thu giữ vật chứng.

Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc“ tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương truy tố bị cáo về tội danh và điều luật tại Quyết định truy tố nêu trên là hoàn toàn có cơ sở, chính xác, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Do bị cáo thực hiện hành vi phạm tội bị bắt quả tang, sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng, tội phạm ít nghiêm trọng, bị cáo có nơi cư trú, lý lịch rõ ràng nên Tòa án áp dụng thủ tục rút gọn để xét xử đối với bị cáo theo quy định tại các Điều 455, 456, 457, 462, 463 Bộ luật tố tụng hình sự.

Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội:

Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi đánh bạc trái phép được thua bằng tiền dưới hình thức bán số lô, số đề cho người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích tư lợi nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm trật tự công cộng là khách thể được Luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự trị an trong xã hội có thể là nguyên nhân nảy sinh các tội phạm khác, cần phải có biện pháp xử lý nghiêm tương xứng với hành vi của bị cáo nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân tốt sống biết chấp hành, tuân thủ pháp luật và phòng ngừa chung trong xã hội.

Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: Bị cáo Hạnh là người có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Căn cứ quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Xét thấy bị cáo phạm tội do nhất thời bột phát, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, số tiền phạm tội ở mức khởi điểm của cấu thành tội phạm, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phù hợp với các điều kiện áp dụng hình phạt “Phạt tiền“ là hình phạt chính (theo quy định tại khoản 1 Điều 35 Bộ luật hình sự ) mà không cần thiết phải áp dụng các hình phạt khác quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Vì bị cáo đã bị áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa xét thấy là phù hợp, được chấp nhận.

Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Đối với số tiền 5.200.000 đồng là số tiền do bị cáo bán số lô, số đề trái phép cho anh Việt Anh và anh Thoại mà có cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước. Đối với 01 bút bi nhãn hiệu Matixs fo-024 mực viết màu xanh bị cáo sử dụng vào việc phạm tội cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại iphone màu trắng số IMEI 359302062097552 bị cáo sử dụng để chụp lại tích kê phục vụ việc đối chứng so thưởng cần tịch thu cho phát mại sung vào ngân sách nhà nước .

Đối với số tiền 3.690.000 đồng thu giữ của bị cáo, bị cáo xác định không sử dụng vào việc phạm tội và không có căn cứ chứng minh bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần trả lại bị cáo. Tuy nhiên tại phiên tòa bị cáo tự nguyện đề nghị sung vào ngân sách nhà nước nên cần ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo sung vào ngân sách nhà nước số tiền 3.690.000 đồng.

Đối với 06 mảnh giấy kích thước 6x8cm được cắt từ 1/2 tờ vé lô tô trên mặt sau có ghi các số lô, số đề và 01 tập giấy trắng cần lưu tại hồ sơ vụ án để làm tài liệu căn cứ của vụ án.

Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo bị kết án phải trả án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Về các vấn đề khác: Đối với anh Thoại bị kết án năm 2003 về tội đánh bạc đã được xóa án tích, chưa bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc, gá bạc, chưa bị kết án về hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc, gá bạc sử dụng số tiền dưới 5.000.000 đồng nên Công an đã xử phạt hành chính là phù hợp.

Anh Ngô Văn Vững không biết Hạnh bán số lô, số đề trái phép; không làm rõ được người mua số lô, số đề trái phép ngày 16/12/2021 nên không có căn cứ xử lý.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an thành phố Hải Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm b khoản 1 Điều 32; khoản 1 Điều 35; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; Điều 455, 456, 457, 462, 463 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Căn cứ vào điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136, Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Điều 21, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “Đánh bạc”.

2. Về hình phạt:

Xử phạt: Phạt tiền đối với bị cáo Nguyễn Thị H 22.000.000 đồng (hai mươi hai triệu đồng) để sung vào ngân sách nhà nước.

Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo.

3. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 5.200.000 đồng.

Tịch thu tiêu hủy 01 bút bi nhãn hiệu Matixs fo-024 mực viết màu xanh.

Tịch thu cho phát mại sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại iphone màu trắng số IMEI 359302062097552.

Sung vào ngân sách nhà nước số tiền 3.690.000 đồng.

Lưu giữ tại hồ sơ vụ án: 06 mảnh giấy kích thước 6x8cm được cắt từ ½ tờ vé lô tô trên mặt sau có ghi các số lô, số đề và 01 tập giấy trắng để làm tài liệu căn cứ của vụ án.

(Tình trạng vật chứng, đặc điểm, số lượng, chủng loại theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hải Dương và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Dương ngày 15/02/2022).

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Thị H phải trả 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Nơi nhận:

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND tỉnh Hải Dương;

- VKSND TP. Hải Dương;

- Bị cáo;

- Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an TP. Hải Dương;

- Cơ quan Thi hành án hình sự - Công

Trần Quang Minh an TP. Hải Dương;

- Sở tư pháp tỉnh Hải Dương;

- Chi cục THADS TP. Hải Dương;

- Phòng hồ sơ nghiệp vụ Cảnh sát Công an tỉnh Hải Dương;

- Thông báo KQXX cho ủy ban;

- Lưu hồ sơ, án văn.

- Lưu văn phòng. Mẫu số 27-HS (Ban hành kèm theo Nghị quyết số 05/2017/NQ-HĐTP ngày 19 tháng 9 năm 2017

của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao)

–––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––

TÒA ÁN(1).........................

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

–––––––––––––––

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

–––––––––––––––––––––––––––––––

Bản án số:...../.....(2)/HS-ST

Ngày.....-.....-................... (3)

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN........................................ (4)

(5)

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông (Bà)...............................................

Thẩm phán: Ông (Bà) ..............................................................................

Các Hội thẩm nhân dân (quân nhân):

Ông (Bà)........................................................................................................

Ông (Bà)........................................................................................................

Ông (Bà)........................................................................................................

- Thư ký phiên tòa: Ông (Bà)…………………………………………. (6)

(7)

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân ........................tham gia phiên tòa:

Ông (Bà).......................................... - Kiểm sát viên.

Trong các ngày..... tháng..... năm....... (8) tại…………………………….(9) xét xử sơ thẩm công khai(10) vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số:…/…/TLST-HS ngày…tháng…năm…theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:…/…/QĐXXST-HS ngày…tháng…năm… đối với bị cáo (các bị cáo):

(11)

............................sinh ngày.....tháng..... năm.....tại.................................. Nơi cư trú..........................; nghề nghiệp.......................; trình độ văn hoá (học vấn)..........; dân tộc:……….; giới tính:……..; tôn giáo:……..; quốc tịch:…….; con ông.................và bà................; có vợ (chồng) và.......con; (12)tiền án.........,tiền sự.......; nhân thân…….; bị bắt, tạm giam ngày(13).................

(14)

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo:

Ông (Bà)..................sinh năm (hoặc tuổi)............; nơi cư trú................,

nghề nghiệp............................ là(15).......................................................................

- Người bào chữa cho bị cáo:(16)............................................................. ... ………………………………………………………………………………..

- Bị hại:(17) ...............................................................................................

………………………………………………………………………………..

- Người đại diện hợp pháp của bị hại:(18) ...............................................

………………………………………………………………………………..

- Nguyên đơn dân sự:(19)..........................................................................

………………………………………………………………………………..

- Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn dân sự:(20) ..........................

………………………………………………………………………………..

- Bị đơn dân sự:(21) ..................................................................................

………………………………………………………………………………..

- Người đại diện hợp pháp của bị đơn dân sự:(22)...................................

………………………………………………………………………………..

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:(23) .........................

………………………………………………………………………………..

- Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:(24)............................................................................................................. ... ………………………………………………………………………………..

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại (nguyên đơn dân

sự,........):(25)……………………………………………………………………... ………………………………………………………………………………..

- Người tham gia tố tụng khác:(26)………………………………………

………………………………………………………………………………..

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:(27)

……………………………………………………………………………

.............................................................................................................................

……………………………………………………………………………

.............................................................................................................................

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: (28)

………………………………………………………………………… …………………………………………………………………………………..

………………………………………………………………………….. ……………………………………………………………………………………. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào(29)…………………………………………………………………… …………………………………………………………………………………...

(30)

.............................................................................................................. ... ............................................................................................................................. ...

(31) ........................................................................................................................................... ………………………………………………………………………………………...

Hướng dẫn sử dụng mẫu số 27-HS:

Mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo bản hướng dẫn này được soạn thảo theo tinh

thần quy định tại các điều 254, 260 và 423 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo hướng dẫn này được sử dụng cho tất cả các Tòa án khi xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Sau đây là những hướng dẫn cụ thể về việc sử dụng mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo:

(1) và (4) nếu là Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì ghi tên Tòa án nhân dân quận (huyện, thị xã, thành phố) gì thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nào (ví dụ: Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An); nếu là Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì ghi tên Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (ví dụ: Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội); nếu là Tòa án quân sự khu vực thì ghi tên Tòa án quân sự khu vực gì thuộc quân khu, quân chủng nào; nếu là Tòa án quân sự quân khu, quân chủng thì ghi tên Tòa án quân sự quân khu, quân chủng (ví dụ: Tòa án quân sự Quân khu Thủ đô).

(2) ô thứ nhất ghi số Bản án, ô thứ hai ghi năm ra Bản án (ví dụ: 16/2017/HS-ST).

(3) ghi ngày, tháng, năm tuyên án không phân biệt vụ án được xét xử sơ thẩm và kết

thúc trong một ngày hay được xét xử sơ thẩm trong nhiều ngày hoặc nghị án kéo dài.

(5) nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm ba người, thì chỉ ghi đầy đủ họ tên của

Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, bỏ dòng Thẩm phán..., đối với Hội thẩm nhân dân (quân nhân) chỉ ghi đầy đủ họ tên của hai Hội thẩm nhân dân (quân nhân); nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có năm người, thì ghi đầy đủ họ tên của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, họ tên của Thẩm phán, họ tên của cả ba Hội thẩm nhân dân (quân nhân). Cần chú ý không ghi chức vụ của Thẩm phán; đối với vụ án hình sự thông thường thì không ghi chức vụ, nghề nghiệp của Hội thẩm nhân dân (quân nhân); đối với vụ án hình sự có bị cáo là người dưới 18 tuổi thì ghi nghề nghiệp của Hội thẩm nhân dân (quân nhân). Nếu vụ án do Tòa án quân sự giải quyết thì không ghi Ông (Bà) mà ghi cấp bậc quân hàm.

(6) ghi đầy đủ họ tên của Thư ký phiên tòa và ghi rõ là Thư ký Tòa án hoặc Thẩm tra

viên của Tòa án nào như hướng dẫn tại điểm (1).

(7) ghi tên Viện kiểm sát như hướng dẫn tại (1); ghi họ tên Kiểm sát viên thực hành

quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa.

(8) trường hợp vụ án được xét xử và kết thúc trong một ngày thì bỏ hai chữ Trong các (ví dụ: Ngày 15 tháng 7 năm 2017). Trường hợp vụ án được xét xử trong hai ngày thì ghi Trong các ngày (ví dụ: Trong các ngày 02, 03 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà liền nhau thì ghi Từ ngày đến ngày (ví dụ: Từ ngày 06 đến ngày 10 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà không liền nhau thì ghi Trong các ngày (ví dụ: Trong các ngày 07, 08 và ngày 15 tháng 3 năm 2017); nếu khác tháng mà liền nhau thì ghi từ ngày... tháng... đến ngày... tháng... (ví dụ: Từ ngày 31 tháng 05 đến ngày 02 tháng 6 năm 2017); nếu không liền nhau thì ghi các ngày của từng tháng (Ví dụ: Trong các ngày 30, 31 tháng 3 và các ngày 04, 05 tháng 4 năm 2017).

(9) nếu vụ án được xét xử tại trụ sở Tòa án thì ghi như hướng dẫn tại mục (1) (4). Nếu vụ án được xét xử lưu động thì ghi địa điểm nơi diễn ra phiên tòa.

(10) nếu xét xử kín thì thay cụm từ công khai bằng từ kín.

(11) và (12) ghi đầy đủ họ tên bị cáo và các bí danh, tên thường gọi khác (nếu có); nếu bị cáo là người dưới 18 tuổi phải ghi đầy đủ ngày, tháng, năm sinh tính đến ngày bị cáo thực hiện hành vi phạm tội (ví dụ: Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 16 tuổi 8 tháng 15 ngày); nếu bị cáo trên 18 tuổi thì ghi ngày, tháng, năm sinh hoặc tuổi; ghi nơi đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú, nơi sinh sống của bị cáo. Đối với tiền sự thì chỉ ghi khi đã xác định đúng theo quy định của pháp luật lần bị xử lý đó tính đến ngày phạm tội chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý hành chính hoặc bị xử lý kỷ luật. Đối với tiền án thì chỉ ghi khi đã xác định đúng theo quy định của pháp luật lần bị kết án đó tính đến ngày phạm tội chưa được xoá án. Về nhân thân ghi án tích, đã bị xử phạt vi phạm hành chính, đã xử lý kỷ luật cụ thể các lần đó và ghi rõ là các án tích, xử phạt vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật đó đã được xoá. Trường hợp bị cáo là pháp nhân thương mại thì ghi tên, địa chỉ trụ sở, tên người đại diện theo pháp luật, tiền án, tiền sự của pháp nhân thương mại và các thông tin cần thiết khác; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.

(13) ghi ngày bị cáo bị bắt, tạm giam; nếu trước đó bị cáo đã bị tạm giữ, bị bắt, tạm

giam, thì ghi ngày bị tạm giữ, ngày bị bắt, tạm giam và ngày được cho tại ngoại; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.

(14) và (15) nếu bị cáo có người đại diện hợp pháp thì ghi rõ họ tên của bị cáo đó (ví dụ: Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Văn A). Sau chữ là ghi quan hệ như thế nào với bị cáo (ví dụ: là bố của bị cáo); nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.

(16) nếu có người bào chữa thì ghi đầy đủ họ tên của người bào chữa và họ tên của bị cáo được bào chữa; nếu người bào chữa là luật sư thì ghi luật sư của Văn phòng luật sư nào và thuộc Đoàn luật sư nào (ví dụ: Ông Trần B, Luật sư Văn phòng luật sư Vạn Xuân thuộc Đoàn luật sư tỉnh H bào chữa cho Nguyễn Văn C); nếu không phải là luật sư thì ghi nghề nghiệp, nơi công tác của người bào chữa (ví dụ: Bà Lê Thị M, bào chữa viên nhân dân công tác tại Hội luật gia tỉnh M bào chữa cho Nguyễn Văn D); nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.

(17), (18), (19), (20), (21), (22), (23) và (24) nếu có người nào tham gia tố tụng thì ghi đầy đủ họ tên, tuổi, nơi cư trú của người đó. Trường hợp bị hại là người bị xâm phạm về tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự và là người dưới 18 tuổi, thì phải ghi đầy đủ ngày, tháng, năm sinh của bị hại; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.

(25) nếu bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên

quan đến vụ án có người bảo vệ quyền lợi cho họ, thì ghi đầy đủ họ tên của họ theo thứ tự; nếu người bảo vệ quyền lợi của đương sự là luật sư thì ghi luật sư của Văn phòng luật sư nào và thuộc Đoàn luật sư nào; nếu không phải là luật sư thì ghi nghề nghiệp, nơi công tác của người bảo vệ quyền lợi cho đương sự; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi có mặt và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi vắng mặt.

(26) nếu có người tham gia tố tụng là người làm chứng thì ghi đầy đủ họ tên; nếu

người tham gia tố tụng là người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật thì ghi đầy đủ họ tên, cơ quan công tác.

(27) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại điểm b và điểm c

khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

(28) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại các điểm d, đ và e

khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Trong phần này, các đoạn văn được đánh số thứ thự trong dấu [ ].

(29) tùy từng trường hợp mà ghi rõ căn cứ pháp luật để ra quyết định.

(30) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

(31) phần cuối cùng của bản án, đối với bản án được thông qua tại phòng nghị án thì

phải có đầy đủ chữ ký, ghi đầy đủ họ tên của các thành viên Hội đồng xét xử và đóng dấu (bản án này phải lưu vào hồ sơ vụ án); đối với bản án để gửi cho các bị cáo, các đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan và Viện kiểm sát theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự thì ghi như sau:

Cỡ chữ