- Tranh chấp gì? án hình sự — "BA Đỗ Xuân D - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tội danh: Tuyên bố bị cáo Đỗ Xuân D phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO TỈNH ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 11/2022/HS-ST Ngày 14/12/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO - TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lương Thị Nga.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Tuân và ông Trịnh Quyết Thắng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lợi, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo tham gia phiên toà: Ông Phạm Minh Hưng, Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 12 năm 2022, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên và điểm cầu thành phần tại Nhà tạm giữ Công an huyện Tuần Giáo tiến hành xét xử trực tuyến sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 11/2022/TLST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2022/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 12 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên đối với bị cáo:
Họ và tên: Đỗ Xuân D; tên gọi khác: Không; sinh ngày 03/02/1987, tại thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; trú tại: Phố N, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 9/12; con ông: Đỗ Xuân K, sinh năm 1957 (Đã chết) và con bà: Lê Thị G, sinh năm 1961 (Đã chết); bị cáo có vợ là Lê Thị V, sinh năm 1984 và có 01 người con sinh năm 2022; tiền sự: Không; tiền án: 01 tiền án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo bản án số: 04/2020/HS-ST ngày 14/01/2020 của Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn tuyên phạt 01 năm 04 tháng tù, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù từ ngày 31/10/2020; nhân thân bị cáo: Bị cáo đã bị xét xử về tội tội Tàng trữ trái phép chất ma túy chưa được xóa án tích và bị cáo chưa bị xử lý vi phạm hành chính; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/9/2022 cho đến nay. Bị cáo được trích xuất áp giải và có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 19 giờ ngày 03/9/2022, Đỗ Xuân D bắt xe khách từ thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa để lên tỉnh Điện Biên chơi. Sáng ngày 04/9/2022, khi đến bến xe khách huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên D xuống xe và tiếp tục bắt xe khách từ bến xe khách Tuần Giáo lên thành phố Điện Biên Phủ; khi lên xe D ngồi cạnh một người đàn ông, qua làm quen nói chuyện D chỉ biết người đàn ông đó tên là N nhà ở thành phố Đ, tỉnh Điện Biên; qua quan sát D biết người đàn ông đó có sử dụng ma túy nên Dđã hỏi người đàn ông đó “Anh có biết chỗ nào chơi Heroine không?”, N trả lời “Cứ lên thành phố rồi khác dẫn đi”. Sau khi lên đến bến xe khách thành phố Điện Biên Phủ thì D và Nxuống xe và bắt tacxi đến nhà một người đàn ông mà D không quen biết. Sau đó, N đã giới thiệu người đàn ông đó là bạn của N. Qua trao đổi D đã mua của người đàn ông đó 01 gói Heroine với giá 1.000.000đ. Sau khi mua được Heroine, D đã cùng người bạn của N và N bỏ gói Heroine đó ra sử dụng bằng hình thức chích. Sau khi sử dụng ma túy xong, D đi tìm nhà trọ để nghỉ. Đến 07 giờ ngày 05/9/2022, D đã tìm Tacxi để lên huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên đến nhà bạn chơi, nhưng do lâu không liên lạc nên D không có số điện thoại và không nhớ địa chỉ nhà của bạn nên D đã bắt xe quay lại thành phố Điện Biên Phủ. Sau đó khoảng 14 giờ cùng ngày Dũng đã bắt xe khách của nhà xe Hải Định về Thanh Hóa. Hồi 18 giờ 50 phút ngày 05/9/2022, khi đi đến bản Ta Cơn, xã Chiềng Sinh, huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên thì bị tổ công tác Công an huyện Tuần Giáo phối hợp với tổ công tác theo kế hoạch 1266 Công an tỉnh Điện Biên phát hiện bắt quả tang, thu giữ trong túi quần bên trái Dũng đang mặc trên người 01 gói giấy màu trắng bên chứa chất bột màu trắng nghi Heroine. Tổ công tác đã lập biên bản thu giữ vật chứng và đưa Đỗ Xuân D cùng vật chứng đưa về Cơ quan điều tra để điều tra, làm rõ.
Tại Biên bản mở niêm phong vật chứng ngày 05/9/2022, có sự chứng kiến của bị cáo đã xác định như sau: 01 gói giấy màu trắng bên chứa chất bột màu trắng nghi Heroine có tổng khối lượng là 0,41 gam, trích mẫu giám định là 0,15 gam, khối lượng còn lại là 0,26 gam. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tuần Giáo đã ra Quyết định trưng cầu giám định số: 170/QĐ-CSĐT, ngày 06/9/2022. Tại bản Kết luận giám định số: 1222/KL-KTHS ngày 12/9/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên đã kết luận: Mẫu cục chất bột màu trắng trích ra từ vật chứng thu giữ của Đỗ Xuân D gửi giám định là chất Ma túy: Loại Heroin (Heroine).
Tại Cáo trạng số: 118/CT-VKSTG ngày 14 tháng 11 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên; đã truy tố bị cáo về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tại phiên tòa Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu một phong bì niêm phong màu trắng, các mép đều được dán kín. Mặt trước gói phong bì có ghi vật chứng còn lại vụ Đỗ Xuân D, vật chứng gồm: 0,26 gam Heroine, 01 mảnh giấy màu trắng và 01 vỏ phong bì cũ dùng để niêm phong vật chứng để tiêu hủy. Đề nghị áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án bị cáo phải chịu phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa, bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, không phạt bổ sung và miễn tiền án phí hình sự cho với bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Xét về hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi của mình phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở kết luận: Ngày 05/9/2022, bị cáo Đỗ Xuân D bị bắt quả tang thu giữ 01 gói Heroine được xác định khối lượng 0,41 gam, bị cáo mua với giá 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) của một người đàn ông không rõ lai lịch do một người tên N mà bị cáo quen trên xe khách giới thiệu. Sau khi mua được ma túy bị cáo, N và người đàn ông bạn của N đã cùng sử dụng bằng hình thức chích, số ma túy còn lại bị cáo cất giấu nhằm mục đích sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang, thu giữ. Hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng của bị cáo đã vi phạm quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Vì vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo truy tố và Kiểm sát viên luận tội là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm những quy định của Nhà nước trong việc quản lý, sử dụng các chất ma túy; hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, gây mất trật tự trị an tại địa phương và làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự ổn định, phát triển của xã hội. Vì vậy, cần xử lý nghiêm minh nhằm răn đe và phòng ngừa chung.
Xét tình tiết định khung hình phạt đối với bị cáo: Khối lượng Heroine bị thu giữ của bị cáo là 0,41 gam; nằm trong khoảng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam; bị cáo tàng trữ ma túy nhằm mục đích sử dụng; với hành vi và khối lượng Heroine bị cáo tàng trữ được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự; có mức hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo phạm tội khi chưa được xóa án tích nên bị cáo phải chịu áp dụng tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo có 01 tiền án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy nên bị cáo là người có nhân thân xấu; bị cáo không có tiền sự.
Trong những năm qua Nhà nước đã tốn sức người, sức của để phòng chống tệ nạn ma túy; những cuộc tuyên truyền về tác hại ma túy đã đến được với người dân, bản thân bị cáo năm 2020 đi chấp hành án phạt tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy đến ngày 31/10/2020 chấp hành xong. Như vậy sau khi chấp hành xong hình phạt tù, lẽ ra bị cáo phải cố gắng rèn luyện bản thân, có lối sống lành mạnh hơn nhưng chỉ vì bản thân không vượt qua được cám dỗ của ma túy mà bị cáo lại tiếp tục có hành vi mua ma túy để sử dụng. Qua hành vi của bị cáo Hội đồng xét xử thấy rằng, bị cáo thiếu ý thức rèn luyện, coi thường pháp luật, có lối sống không lành mạnh. Bởi vậy, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hộ một thời gian và đưa ra mức hình phạt nghiêm khắc để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người tốt, sống có ích cho gia đình, xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định; bị cáo còn có thể bị phạt bằng hình thức phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên, xét điều kiện hoàn cảnh của bị cáo không có khả năng thi hành; nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo đã đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và tuyên mức hình phạt đối với bị cáo từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù; Hội đồng xét xử xét thấy về đề nghị mức hình phạt là phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi, tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng của bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đối với người đàn ông tên N và bạn của N là người bị cáo khai đã bán ma túy cho bị cáo, nhưng khi mua bị cáo không hỏi tên tuổi địa chỉ ở đâu nên không có cơ sở xác để minh làm rõ, do đó tại vụ án này HĐXX không xem xét.
Về vật chứng: Hội đồng xét xử thấy rằng cần căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để xử lý vật chứng như sau: Đối với 0,26 gam Heroine là chất Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 mảnh giấy màu trắng, 01 vỏ phong bì cũ dùng để niêm phong vật chứng, không có giá trị sử dụng nên cần tiêu hủy.
Về án phí: Cần căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thấy rằng: Không có ý kiến khiếu nại các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng theo quy định của Pháp luật. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 332; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án đối với bị cáo, tuyên xử:
1. Tội danh: Tuyên bố bị cáo Đỗ Xuân D phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
2. Hình phạt: Xử phạt bị cáo Đỗ Xuân D 01 (Một) năm 04 (Bốn) tháng tù; thời gian thi hành án phạt tù tính từ ngày 05/9/2022.
3. Vật chứng: Tịch thu một phong bì niêm phong màu trắng, các mép đều được dán kín. Mặt trước gói phong bì có ghi vật chứng còn lại vụ Đỗ Xuân D, vật chứng gồm: 0,26 gam chất bột màu trắng nghi ma túy loại Heroine, 01 mảnh giấy màu trắng và 01 vỏ phong bì cũ dùng để niêm phong vật chứng để tiêu hủy (Tại bản kết luận giám định số: 1222/KL-KTHS ngày 12/9/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Mẫu chất bột màu trắng trích ra từ vật chứng thu giữ của Đỗ Xuân D gửi giám định là chất Ma túy: Loại Heroin (Heroine)). Đặc điểm vật chứng nói trên được ghi theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/11/2022 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tuần Giáo và Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuần Giáo.
4. Án phí: Bị cáo Đỗ Xuân D phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo Đỗ Xuân D được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 14/12/2022).
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Điện Biên; - VKSND tỉnh Điện Biên; - Phòng HC, Sở tư pháp tỉnh Điện Biên; - Bộ phận HSNV, Công an huyện Tuần Giáo; - VKSND huyện Tuần Giáo; - Chi cục THADS huyện Tuần Giáo; - Bị cáo; - Lưu. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Phạm Văn Tuân Trịnh Quyết Thắng | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Lương Thị Nga HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Thị Nga |