vanban.org

Bản án 11/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Quảng Điền, TP. Huế Tuyên án 17/06/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Hồ Văn P phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Về hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260; các điểm b, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54; Điều 65; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự. Xử phạt: bị cáo Hồ Văn P 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 30 (ba mươi ) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hồ Văn P phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số Số: 01/2022/NQ-HĐTP Sửa đổi, bổ sung một số đi…; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUẢNG Đ
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:11 /2022/HS-ST
Ngày 17-6-2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG Đ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Quốc C.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Quang T – cán bộ UBMTTQVN huyện Quảng Đ;

Bà Đỗ Thị Vinh M - giáo viên Trường tiểu học số 1 thị trấn S .

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị T, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quảng Đ, tỉnh Thừa Thiên Huế

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Đ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn D - Kiểm sát viên.

Trong ngày 17 tháng 6 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quảng Đ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 08/2022/TLST-HS ngày 28 tháng 4 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2022/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 6 năm 2022, đối với bị cáo:

Hồ Văn P, sinh ngày 06/02/2005 tại: tỉnh Thừa Thiên Huế. Nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiê ̣n nay : tổ dân phố Uất Mậu, thị trấn Sịa, huyện Quảng Đ, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Hồ Xuân B, sinh năm 1971; con bà: Trần Thị Nh, sinh năm: 1978; bị can có 03 chị, em ruô ̣t, bị can là con thứ hai trong gia đình; vợ, con: Chưa; tiền án: Chưa; tiền sự: Chưa;

Nhân thân: Nhỏ sinh sống cùng gia đình tại tổ dân phố Uất Mậu, thị trấn Sịa, huyện Quảng Đ, tỉnh Thừa Thiên Huế, hiện đang theo học trường THPT Nguyễn Chí Thanh cho đến ngày pha ̣m tô ̣i ; Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo: Bà Trần Thị Nh, sinh năm 1978.

Nơi cư trú: Tổ dân phố Uất Mậu, thị trấn Sịa, huyện Quảng Đ, tỉnh Thừa Thiên Huế, có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Ngọc Á, sinh năm 1990 -Trợ giúp viên pháp lý.

Địa chỉ: Chi nhánh trợ giúp pháp lý số 01 Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước Thừa Thiên Huế, có mặt.

- Bị hại:

1. Anh Nguyễn Minh Nh, sinh năm 1984 (đã chết)

Người đại diện hợp pháp của người bị hại:

Bố của anh Nh: Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1956;

Mẹ của anh Nh: Bà Lê Thị X, sinh năm 1960.

Vợ của anh Nh: Chị Dương Thị Tường V, sinh năm 1984.

Ông Minh, bà Xuân đã ủy quyền cho chị Dương Thị Tường V, sinh năm 1984. Nơi cư trú: Thôn Bác Vọng Tây, xã Quảng Phú, huyện Quảng Đ, tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia tố tụng trong vụ án; chị V có mặt.

2. Anh Nguyễn Hữu L, sinh ngày 10/9/2005

Người giám hộ cho anh L: Ông Nguyễn H, sinh năm 1972.

Cùng nơi cư trú: Thôn Thủy L, xã Quảng Lợi, huyện Quảng Đ, tỉnh Thừa Thiên Huế, cùng có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho anh L: Ông Dương Tiến D, sinh năm 1966 - Trợ giúp viên pháp lý.

Địa chỉ: Chi nhánh trợ giúp pháp lý số 01 Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước Thừa Thiên Huế, có mặt.

2.3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 2003.

Nơi cư trú: Thôn Thủy L, xã Quảng Lợi, huyện Quảng Đ, tỉnh Thừa Thiên Huế, có mặt.

2.4. Người làm chứng:

1. Anh Tôn Thành Tr, sinh ngày 07/5/2005

Người giám hộ cho anh Tr: Bà Nguyễn Thị Hồng H, sinh năm 1964.

Cùng nơi cư trú: Thôn Hạ Lang, xã Quảng Phú, huyện Quảng Đ, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.

2. Anh Phạm Thái Anh Qu, sinh ngày 30/6/2005

Người giám hộ cho anh Qu: Bà Thái Thị Tường L, sinh năm 1971.

Cùng nơi cư trú: Thôn Bác Vọng Đông, xã Quảng Phú, huyện Quảng Đ, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 08/7/2021, Hồ Văn P điều khiển xe gắn máy mang biển kiểm soát 75AE - 005.84 chở theo sau Nguyễn Hữu L lưu thông trên đường tỉnh lộ 11A, theo hướng An Lỗ - Sịa. Khi đến km 5 + 600m, tỉnh lộ 11A, thuộc địa phận thôn Phổ Lại, xã Quảng Vinh, huyện Quảng Đ, tỉnh Thừa Thiên Huế đã va chạm với xe mô tô mang biển soát 75E1 - 124.89 do Nguyễn Minh Nh điều khiển theo hướng ngược lại gây tai nạn giao thông.

Hậu quả: Anh Nh bị thương nặng được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Trung ương Huế (cơ sở 2) đến ngày 12/7/2021 thì tử vong; P bị thương được đưa đi cấp cứu, điều trị tại Bệnh viện Trung ương Huế (cơ sở 2) đến ngày 19/7/2021 ra viện và anh L bị thương nhẹ điều trị tại Bệnh viện huyện Quảng Đ; xe gắn máy và xe mô tô bị hư hỏng nặng.

Biên bản khám nghiê ̣m hiê ̣n trườ ng hồi 21 giờ 40 phút ngày 08/7/2021, xác đi ̣nh:

“Đây là đoạn đường thẳng tại Km 5 + 600m, tỉnh lộ 11A, thuộc địa phận thôn Phổ Lại, xã Quảng Vinh, huyện Quảng Đ, tỉnh Thừa Thiên Huế, lòng đường rải nhựa rộng 8m10, không có vạch sơn kẽ làn đường. Theo hướng đi từ Sịa đến An Lỗ, trước đoạn xảy ra vụ tai nạn khoảng 9m có biển báo “trẻ em” đặt trên lề phải, phần lề phải được tráng xi măng tiếp giáp từ mép phải vào sân nhà ông Hồ Ngọc Hiếu ở thôn Phổ Lại, xã Quảng Vinh.

Chọn hướng khám nghiệm theo chiều đi từ An Lỗ đến Sịa, chọn biển báo “trẻ em” trên lề trái làm mốc chuẩn viết tắt “biển báo” chọn mép đường bên trái làm chuẩn để đo đạt-viết tắt là MT.

Số (1) tại vị trí cách mốc biển báo “trẻ em” về phía An Lổ và chếch ra tâm đường 9m đồng thời cách mép trái (MT) đường ra tâm 3m10 phát hiện nhiều mãnh kim loại vở rơi lại, mãnh lớn nhất có hình cung, dây trương cung 01 cm, rộng 0,4cm và hai mãnh nhựa màu đen (5x12)cm và (0,8x0,5)cm, các loại mãnh này tập trung thành vùng kích thước (0,3x0,2)m.

Số (2) vùng rơi kim loại và nhựa, cách tâm vị trí số (1) về phía Sịa và chếch sang lề trái 0,75m phát hiện nhiều mãnh nhựa màu đen và kim loại đầu chân tâm xe máy-mảng kim loại bảo hộ đầu chắn bùn xe máy rơi rải rác thành vùng hình ô văn (0,6x0,5)m, tâm vùng này cách mép trái 2,78m ngay trước bánh trước xe máy 75AE-005.84, các mảnh nhựa màu đen có 02 dạng bề mặt trơn bóng và bề mặt nhám.

Số (3) vết cày xước mặt đường không liên tục: Cách tâm vết (1) về hướng Sịa 0,2m phát hiện vết xước mặt đường không liên tục, mạc vở và bột đá bị đẩy về hướng Sịa độ dài đo được là 0,83m, điểm đầu cách MT 3,45m, điểm cuối là vị trí tiếp xúc của gác chân trước bên phải xe máy 75AE-005.84 với mặt đường, cách MT 3,25m..

Số (4) vết xước đường không liên tục, ngay dưới thân xe máy 75AE-005.84 có vết xước đường cùng hướng với vết số (3), độ dài đo được là 1,34m, điểm đầu có bám thêm kim loại cách MT 3,4m, điểm cuối là vị trí tiếp xúc của gác chân sau bên phải xe mô tô 75E1-124.89 với mặt đường, cách MT 2,65m.

Số (5) xe máy 75AE-005.84 ngã đổ về bên phải, đầu xe hướng An Lổ chếch lề trái, tâm bánh trước cách MT 3m và cách vị trí số (1)về phía Sịa 0,6m, đuôi xe hướng phía Sịa và chếch ra tâm đường, tâm bánh sau cách MT 3,6m.

Số (6) xe mô tô mang BKS 75E1-124.89 ngã đổ về bên phải đầu xe hướng phía Sịa chếch ra vào lề trái, tâm bánh trước cách MT là 1m66 và cách mốc biển báo 6,15m, đuôi xe hướng ra tâm đường hơi chếch hướng An Lổ, tâm bánh sau cách MT là 2,85m và cách tâm bánh sau xe ở số (5) là 0,9m, yên xe bung hở, sổ sách vật dụng bên trong tuột ra đường, ngay phía ngoài có chiếc mũ bảo hiểm kiểu lưởi trai, võ nhựa màu đen.

Số (7) ghi nhận hình vẽ cơ thể người ngã, đầu hướng vào vùng 02 đuôi xe liên quan tai nạn, đỉnh đầu cách đều tâm 02 bánh sau 2 xe là 0,8m và cách MT 3,43m, thân vuông góc với trục tâm đường, chân hướng sang lề phải.

Số (8) ghi nhận vị trí chiếc khẩu trang y tế màu trắng + xanh, cách mép trái ra 0,9m và cách tâm bánh bánh trước của xe máy số (6) về phía Sịa 1m.

Số (9) vùng dịch màu đỏ gồm nhiều đám rải rác thành vùng kích thước (0,9x0,85)m, ngay giữa vùng dịch có vẽ hình nạn nhân ngã, vùng đầu, miệng ngay vết dịch màu đỏ, đỉnh đầu hướng phía lề trái cách MT 2,39m, cách tâm bánh trước xe máy-mô tô ở số (6) về hướng Sịa là 2,5m và cách mốc biển báo ra tâm đường 4,53m, tiếp giáp với vùng dịch ở hướng Sịa có bảo hiểm vỏ nhựa màu trắng- chân nạn nhân trong hình hướng lề phải.

Khu vực gần mép trái, từ 2 phương tiện trở vào lề trái và khoảng sân bê tông trước nhà ông Hiếu rơi vải nhiều loại mãnh nhựa, mũ bảo hiệu thành vùng kích thước (5,3x4,20)m”.

Kết quả khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông xác định:

- Xe mô tô 75E1-124.89:

“+ Ốp nhựa sau tay lái bên trái vỡ rời hẳn một phần kích thước (16x8)cm, kéo theo các công tắc đèn và còi.

+ Ốp trước tay lái bị bung hở khỏi vị trí ban đầu, góc bên trái có nhiều vết nứt vở thành vùng kích thước (20x8)cm. Hộp kim loại chứa dầu phanh trước có vết mài xướt kim loại ở cạnh trước dài 5cm.

+ Mặt nạ xe vỡ rời khỏi vị trị, đèn chiếu sáng có vết vỡ mặt bảo hộ, cụm đèn bên trong vỡ rời khỏi vị trí.

+ Yếm bên trái vỡ mất hẳn 4/5; chắn bùn bánh trước vỡ phứt tạp mất 1/3 phía trước.

+ Mặt ngoài ống giảm xóc trước bên trái có vết mài xước kim loại. Tại ½ ống giảm xóc có vết mài xước kim loại kích thước (3,5x2)cm. Ngay trên trục bên bên trái có vết cắt khuyết kim loại (1,5x1)cm. Tại vị trí cách trục bên trái lên 3,5cm có vết cắt khuyết kim loại (0,5x0,5)cm.

+ Mặt ngoài đĩa thắng phía trước có vết mài bám kim loại (4,5x0,5)cm.

+ Bộ phận gác chân trước bên trái bị biến dạng, mặt kim loại bị đẩy lịch gập về sau, khung kim loại bên trong có vết xước kim loại kích thước (7x1,5)cm, phần nhựa bên dưới gãy vỡ phức tạp, đáy ốp nhựa lưu lại mãnh nhựa khác màu đen hình tam giác kích thước (7x4)cm và một số mãnh nhựa khác cùng màu.

+ Ốp nhựa dưới bên trái yên xe có vết nứt vỡ nhựa dài (11x9)cm hình chữ L.

+ Phần nhựa yếm xe bên phải bung hở, góc trước có vết nứt vở dích dắc, cạnh bên ngoài hộp đèn có vết mài mòn nhựa (20x0,6)cm.

+ Chụp kim loại ngoài tay cầm lái bên phải có vết mài xước kim loại và bám chất màu trắng hình tròn đường kính 2 cm.

+ Mặt hướng bên phải gác chân trước phải có vết mài xước nhựa diện (15x2,5)cm.

+ Cạnh dưới trước gác chân sau bên phải có vết mài mòn kim loại hình tam giác kích thước (3,5x1)cm.

+ Bộ phận bảo vệ ngoài ống xã có vết mài xước nhựa diện kích thước (30x3)cm.”

- Xe gắn máy 75AE-005.84:

“+ Phần võ nhựa trên trước tay lái và hai phuộc trước vỡ phức tạp rơi mất 4/5, bày các bộ phận bên trong.

+ Vị trí gắn phuộc vào khung xe biến dạng kim loại, hai phuộc bị đẩy lệch về bên trái. Tại mặt ngoài phuộc trước bên trái có vết xước kim loại kích thước (10x3,5)cm đồng thời bám chất màu đen, ốc gắn trục trước bên trái có vết mài cắt kim loại kích thước (1,5x2)cm.

+ Mặt trước bên trái may ơ có nhiều đường mài xước kim loại theo hình cung, đường cung dài 10cm, nhiều lỗ chân tăm trống.

+ Nan hoa (tăm) bánh trước biến dạng phức tạp, nhiều chiếc bị đứt gãy.

+ Vành bánh trước biến dạng kim loại lún vào trong, về sau, lệch về bên trái, võ lốp bung rớt khỏi vành, ruột có đường rách dài 8cm, cách chân van 2cm.

+ Đĩa thắng trước biến dạng kim loại, vùng dưới trục trược có vết mài trượt kim loại và bám chất màu đen trên diện (13x6)cm.

+ Chân đạp số tiến bị biến dạng đẩy lệch sang trái, chênh 45o so với vị trí thẳng ban đầu.

+ Gác chân trước bên trái võ bọc cao su bị rách 2/3 trên, lộ lỏi sắt bên trong có bám nhiều đất bẩn.

+ Trên càng phanh chân có vết mài xước kim loại (2x0,3)cm, mặt ngoài càng gác chân trước bên phải có vết mài xước kim loại kích thước (1x1,5)cm, võ cao su bảo vệ gác chân trước bên phải bị rách 1/5 lộ lỏi kim loại bên trong, mặt ngoài lỏi kim loại có vết mài xước kích thước 1/5 sau.

+ Ốp bảo vệ ống xã có vết mài xước sơn thành vùng (37x3)cm.”

Bản kết luâ ̣n giám đi ̣nh pháp y về tử thi số

362/GĐ ngày 12/8/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tinh Thử

̀ a Thiên Huế đối vớ i Nguyễn Minh Nh kết luâ ̣n:

“1. Các kết quả giám định chính: Tử thi nam, thể trạng trung B, lạnh, xác cứng hoàn toàn. Hoen tử thi hình thành vùng sau cơ thể.

- Vùng chẩm phải sưng nề, trong đó có vết rách da đã khâu dài 4cm.

- Vỡ xương thái dương trái. Vỡ xoang hàm trái.

- Tụ máu dưới màng cứng thùy trán trái. Xuất huyết khoang dưới nhện.

- Phù não lan tỏa bán cầu não hai bên. Cấu trúc đường giữa di lệch sang trái.

- Gãy cung xương sườn 3 bên trái. Đụng dập nhu mô phổi hai bên.

- Gãy đốt giữa, đốt xa ngón 4 bàn tay trái. Gãy rạn đầu dưới xương mác trái.

2. Kết luận nguyên nhân chết: Chấn thương sọ não.

3. Thời gian chết: Khoảng 6 đến 9 giờ kể từ lúc khám nghiệm.

4. Cơ chế hình thành thương tích: Các thương tích bầm, trầy da do tác động với vật tày.”.

Bản kết luận giám đ ịnh pháp y về tổn thưởng cơ thể số 347-21/TgT ngày 24/8/2021 của Trung tâm Pháp y tỉnh Thừa Thiên Huế đối với thương tích của H ồ Văn P kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể hiện tại là 25% ( hai mươi lăm phần trăm).

Kết quả xét nghiệm nồng độ cồn trong máu của Hồ Văn P là 20,27mg/100ml máu.

* Vật chứng, tài liệu, đồ vật thu giữ, tạm giữ:

- 01 (một) xe mô tô mang biển kiểm soát 75E1-124.89 bị hư hỏng do tai nạn giao thông.

- 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển kiểm soát 75E1-124.89 mang tên Dương Thị Tường V.

- 01 (một) xe gắn máy mang biển kiểm soát 75AE-005.84 bị hư hỏng do tai nạn giao thông và 01 giấy chứng đăng ký xe mô tô, xe máy mang tên Nguyễn H.

- 01 (một) cụm đầu nòng pitong có in số 97cm3.

- 01 (một) mảnh vỡ kim loại hình cung, dây trương cung 01cm, rộng 0,4cm; 02 (hai) mảnh nhựa màu đen lần lượt có kích thước (5x1,2)cm và (0,8x0,5)cm được thu giữ và niêm phong ngày 08/7/2021.

- 03 (ba) mảnh kim loại đầu nan hoa (tăm) xe; 05 (năm) mảnh nhựa màu đen, trong đó có ba mảnh bề mặt có màu đen nhẵn, hai mảnh còn lại màu đen nhám được thu giữ và niêm phong ngày 08/7/2021.

Ngày 22/11/2021, Cơ quan CSĐT Công an huyê ̣n Quảng Điền Quyết đi ̣nh xử lý vật chứng số 34 bằng hinh thứ c tra lại tài sản cho chủ sở hữu là̉

Dương Thị Tường

̀ V: 01 (một) xe mô tô mang biển kiểm soát 75E1-124.89 bị hư hỏng do tai nạn giao thông; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển kiểm soát 75E1-124.89 mang tên Dương Thị Tường V

* Về trách nhiệm dân sự:

Sau khi tai nạn xảy ra, gia đình bị can Hồ Văn P tự nguyê ̣n thỏa thuâ ̣n bồi thườ ng thi ệt hại cho gia đinh bi ̣ ha ̣i t ổng số tiền 300.000.000 đồng (Ba trăm triê ̣u

̀ đồng), hiện bà Dương Thị Tường V (người đại diện hợp pháp cho người bị hại) đã nhận đủ số tiền trên và không có yêu cầu gì thêm về phần dân sự.

Tại bản cáo trạng số 08/CT-VKS-HS ngày 27/4/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Đ truy tố bị cáo Hồ Văn P về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260, các điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 65; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo. Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 sửa đổi, bổ sung Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP

Xử phạt bị cáo Hồ Văn P từ 18 đến 21 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 36 đến 42 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Về vật chứng vụ án: áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015

- Trả lại ông H : 01 xe gắn máy mang BKS 75AE-005.84, xe hư hỏng do tai nạn giao thông, xe đã tháo cụm đầu nòng, pitong rời khỏi thân xe, và 01 cụm đầu nòng pitong có in số 97cm3;

Kiến nghị cơ quan chức năng là công an huyện Quảng Đ có hình thức xử lý đối với hành vi thay đổi pittong của xe gắn máy .

- Tịch thu tiêu hủy : 01 mảnh vỡ kim lại hình cung, dây trương cung 01cm, rộng 0,4cm; 02 mảnh nhựa màu đen lần lượt có kích thước 5cmx1,2cm và 0,8cmx0,5cm; 03 mảnh kim loại đầu nan hoa (tăm xe); 05 mảnh nhựa màu đen, trong đó có ba mảnh bề mặt có màu đen nhẵn, hai mảnh còn lại màu đen nhám .

Về trách nhiệm đân sự : không có yêu cầu nên không xem xét

Về án phí HSST : bị cáo phải chịu 200.000 đ

Người bào chữa cho bị cáo, bà Nguyễn Thị Ngọc Á trình bày quan điểm như sau:

- Bị cáo phạm tội xảy ra là ngoài ý muốn. Về nhân thân : bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án tiền sự; hiện đang là học sinh trường THPT Nguyễn Chí Thanh huyện Quảng Đ; là người chưa thành niên phạm tội. Có nhiều tình tiết giảm nhẹ như: khắc phục, bồi thường cho gia đình bị hại; thật thà khai báo, ăn năn hối cải; người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Đề nghị áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; 54, 65, 90, 91, 101 BLHS; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo. Xử phạt bị cáo từ 12-15 tháng tù cho hưởng án treo; thử thách từ 24-30 tháng.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại Nguyễn Hữu L, ông Dương Tiến D trình bày quan điểm như sau:

-Trả lại cho ông Hòa ( bố bị hại L) xe máy và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo P.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình và xin giảm nhẹ hình phạt. Đại diện hợp pháp của bị hại là chị Dương Thị Tường V có ý kiến yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Hồ Văn P.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về quyết định, hành vi tố tụng: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại gì về các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Các quyết định, hành vi tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quảng Đ, tỉnh Thừa Thiên Huế; Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Đ, tỉnh Thừa Thiên Huế, trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định.

Tại phiên tòa, bị cáo Hồ Văn P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, đã có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 21 g 30 ngày 08/7/2021, Hồ Văn P điều khiển xe gắn máy mang biển kiểm soát 75AE-005.84 (trong máu có nồng độ cồn) lưu thông trên đường tỉnh lộ 11A theo hướng An Lỗ - Sịa. Khi đến km 5 + 600m, tỉnh lộ 11A, thuộc địa phận thôn Phổ Lại, xã Quảng Vinh, huyện Quảng Đ, tỉnh Thừa Thiên Huế, do đi không đúng phần đường quy định nên P để xe gắn máy va chạm vào xe mô tô mang biển kiểm soát 75E1-124.89 do Nguyễn Minh Nh điều khiển gây tai nạn giao thông dẫn đến anh Nh tử vong.

Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với nội dung bản Cáo trạng, lời khai của người bị hại, người làm chứng; phù hợp với kết quả khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông đã xác định Hồ Văn P, điều khiển xe môtô xe gắn máy mà trong máu có nồng độ cồn, đi không đúng phần đường quy định nên để phần đầu trục trước, ốc cố định đầu trục trước bên trái và lốp bánh trước của xe gắn máy 75AE-005.84 va chạm vào mặt ngoài giảm xóc trước bên trái, yếm trái và bàn để chân phía trước bên trái xe mô tô 75E1-124.89 là vi phạm khoản 1 Điều 35 Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia năm 2019 và khoản 1 Điều 9 Luâ ̣t giao thông đường bộ nên đã gây ra tai na ̣n dẫn đến anh Nguyễn Minh Nh chết. Do vậy, VKSND huyện Quảng Đ truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" theo điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự là đúng pháp luật .

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng:

Tại thời điểm phạm tội, bị cáo Hồ Văn P đã trên 16 tuổi do đó bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị cáo được thực hiện với lỗi vô ý nhưng thuộc trường hợp nghiêm trọng gây thiệt hại đến tính mạng của người khác, gây mất mát lớn cho gia đình người bị hại; đồng thời xâm phạm trật tự an toàn giao thông trên địa bàn. Do vậy cần phải có hình phạt tương xứng đối với hành vi mà bị cáo gây ra.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấy rằng: Bị cáo không phạm vào tình tiết tăng nặng nào. Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là: Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đại diện hợp pháp của bị hại có đơn đề nghị xem xét miễn, giảm trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Về biện pháp chấp hành hình phạt:

Bị cáo nhận thức được pháp luật và xã hội, mặc dù thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, nhưng do không tuân thủ các quy định về an toàn giao thông trong quá trình tham gia giao thông dẫn đến việc có hành vi phạm tội.

Xét về nhân thân, bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng; bị cáo hiện đang là học sinh theo học trường THPT Nguyễn Chí Thanh huyện Quảng Đ, tỉnh Thừa Thiên Huế. Tại thời điểm phạm tội bị cáo Hồ Văn P chưa đủ 18 tuổi nên cần áp dụng các quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội do đó nếu không bắt đi chấp hành hình phạt tù thì không gây nguy hiểm cho xã hội, không gây ảnh hưởng xấu đến việc đấu tranh phòng chống tội phạm và tạo điều kiện cho bị cáo tiếp tục con đường học tập để rèn luyện phấn đấu trở thành công dân có ích cho xã hội. Căn cứ vào các tình tiết, nội dung của vụ án và theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo; Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 sửa đổi, bổ sung Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP. Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội; vì vậy cần áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo hưởng án treo để thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Không ai có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về vật chứng:

- Đối với 01 xe gắn máy mang BKS 75AE-005.84 và 01 cụm đầu nòng pitong có in số 97cm3. Xe hư hỏng do tai nạn giao thông, xe đã tháo cụm đầu nòng, pitong rời khỏi thân xe, đây là tài sản của ông Nguyễn H. Tại phiên tòa, ông Hòa xin được nhận lại tài sản để làm phương tiện đi lại; nên cần áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 để trả lại.

Kiến nghị công an huyện Quảng Đ có hình thức xử lý theo thẩm quyền đối với hành vi thay đổi pitong của xe gắn máy.

- Đối với 01 mảnh vỡ kim lại hình cung, dây trương cung 01cm, rộng 0,4cm; 02 mảnh nhựa màu đen lần lượt có kích thước 5cmx1,2cm và 0,8cmx0,5cm thu tại vị trí số (1) trong biên bản khám nghiệm hiện trường, được niêm phong vào lúc 22h52 phút ngày 08/7/2021; 03 mảnh kim loại đầu nan hoa (tăm xe); 05 mảnh nhựa màu đen, trong đó có ba mảnh bề mặt có màu đen nhẵn, hai mảnh còn lại màu đen nhám thu tại vị trí số (2) trong biên bản khám nghiệm hiện trường, được niêm phong vào lúc 23h05 phút ngày 08/7/2021. Những vật chứng này không còn giá trị sử dụng nên áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 để tịch thu tiêu hủy.

Về án phí hình sự sơ thẩm:

Bị cáo Hồ Văn P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Hồ Văn P phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

2. Về hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260; các điểm b, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54; Điều 65; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: bị cáo Hồ Văn P 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 30 (ba mươi ) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Hồ Văn P cho Ủy ban nhân dân thị trấn Sịa, huyện Quảng Đ, tỉnh Thừa Thiên Huế giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 ;

- Trả lại cho ông Nguyễn H 01 xe gắn máy mang biển số 75AE-005.84 01 và cụm đầu nòng pitong có in số 97cm3; xe hư hỏng do tai nạn giao thông, xe đã tháo cụm đầu nòng, pitong rời khỏi thân xe;

- Tịch thu tiêu hủy: 01 mảnh vỡ kim lại hình cung, dây trương cung 01cm, rộng 0,4cm; 02 mảnh nhựa màu đen lần lượt có kích thước 5cmx1,2cm và 0,8cmx0,5cm thu tại vị trí số (1) trong biên bản khám nghiệm hiện trường, được niêm phong vào lúc 22h52 phút ngày 08/7/2021; 03 mảnh kim loại đầu nan hoa (tăm xe); 05 mảnh nhựa màu đen, trong đó có ba mảnh bề mặt có màu đen nhẵn, hai mảnh còn lại màu đen nhám thu tại vị trí số (2) trong biên bản khám nghiệm hiện trường, được niêm phong vào lúc 23h05 phút ngày 08/7/2021.

(Chủng loại, số lượng, đặc điểm, tình trạng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/4/2022 giữa cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Quảng Đ với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Đ).

4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Buộc bị cáo Hồ Văn P phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo : Bị cáo; người đại diện hợp pháp của bị hại; người bào chữa; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, được sửa đổi bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ