- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án hình sự - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Võ Đình Tr (B) phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN S TỈNH N ơ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 11/2022/HS-ST Ngày: 23/6/2022 |
NHÂN DANH
ơNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN S – TỈNH N
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Pơ Loong Đếch
Các Hội thẩm nhân dân: + Ông Lưu Thành Tuấn
+ Bà Nguyễn Thị Hòa
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Thành – Thư ký Tòa án nhân dân huyện S, tỉnh N.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện S, tỉnh N tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trường Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 6 năm 2022, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện S, tỉnh N đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 09/2022/TLST-HS, ngày 01 tháng 6 năm 2022, theo Quyết đ đưa vụ án ra xét xử số 11/2022/QĐXXST-HS, ngày 13 tháng 6 năm 2022 đối với bị cáo:
VÕ ĐÌNH TR; tên gọi khác: B; sinh ngày: 20/10/1987, tại: Thành phố Hội An, N; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Thôn 2, xã T, huyện S, tỉnh N; nghề nghiệp: Không ổn đ; trình độ văn hoá (học vấn): 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông không rõ và con bà Nguyễn Thị Hồng H (1964). Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 16/8/2013, bị Tòa án nhân dân huyện S, tỉnh N xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và ngày 29/6/2016, bị Tòa án nhân dân huyện S, tỉnh N xử phạt 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo bị tạm giữ ngày 28/02/2022 và tạm giam ngày 6/3/2022, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện S, tỉnh N; có mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lò Văn Ch; trú tại: Thôn 2, xã Phước Lộc, huyện S, tỉnh N; có mặt.
* Người chứng kiến: Ông Nguyễn Đức Đ; trú tại: Tổ dân phố số 5, thị trấn K, huyện S, tỉnh N; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 28/02/2022, Lò Văn Ch đến phòng trọ của Võ Đình Tr thuê ở trên đường Đinh Tiên Hoàng thuộc Tổ dân phố số 5, thị trấn K, huyện S, tỉnh N hỏi mua ma túy để sử dụng. Tại đây Lò Văn Ch hỏi Võ Đình Tr “anh có để em tí” thì Võ Đình Tr nói “không có”. Sau đó Võ Đình Tr hỏi lại Lò Văn Ch “mi lấy bao nhiêu” thì Lò Văn Ch nói “em lấy 500.000 đồng” và đưa 500.000 đồng cho Võ Đình Tr, sau đó Võ Đình Tr lấy 01 gói ni lông màu xanh, bên trong có chứa chất ma túy đưa cho Lò Văn Ch thì bị lực lượng Công an huyện đang làm nhiệm vụ phát hiện và tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra lực lượng Công an huyện phát hiện trong túi quần của Lò Văn Ch đang mặc phía trước bên phải có 01 gói ni lông màu xanh, bên trong có chứa chất bột màu trắng; Lò Văn Ch khai nhận với lực lượng Công an đó là gói ma túy, loại Heroine vừa mới mua của Võ Đình Tr với giá 500.000 đồng. Kiểm tra phát hiện trong túi quần của Võ Đình Tr đang mặc phía trước bên trái có số tiền 500.000 đồng, Võ Đình Tr khai nhận với lực lượng Công an đó là số tiền do vừa mới bán 01 gói ma túy, loại Heroine cho Lò Văn Ch mà có. Công an huyện S tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Võ Đình Tr, thu giữ tang vật và tiến hành khám xét phòng trọ nơi Võ Đình Tr đang ở đã phát hiện và thu giữ 01 gói ni lông không màu, bên trong nghi có chất ma túy; 01 chai nhựa có gắn nắp, trên nắp có gắn một ống nhựa và một ống thủy tinh, bên trong chai không chứa gì; 01 gói ni lông màu vàng bên trong có chứa hạt tinh thể nghi là ma túy đá; 07 gói ni lông màu xanh bên trong có chứa hạt và bột màu trắng nghi là ma túy.
Vật chứng thu giữ: Thu giữ trên người Lò Văn Ch 01 gói ni lông màu xanh, bên trong có chứa hạt và bột màu trắng nghi là ma túy; thu giữ trên người Võ Đình Tr 500.000 đồng tiền Việt Nam. Thu giữ tại phòng trọ của Võ Đình Tr đang ở 01 gói ni lông không màu, bên trong chứa chất rắn dạng hạt và bột nghi là ma túy; 01 gói giấy màu vàng, bên trong có chứa hạt dạng tinh thể màu trắng, nghi là ma túy đá; 01 chai nhựa có gắn nắp màu đỏ, trên nắp có gắn một ống nhựa và một ống thủy tinh, bên trong chai không chứa gì; 07 gói giấy màu trắng, bên trong có chứa chất rắn dạng bột nghi là ma túy.
Tại Kết luận giám đ số 44/KL-PC09(MT) ngày 4/3/2022, của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh N kết luận: Các mẫu chất rắn dạng hạt-bột màu trắng gửi giám đ (mẫu ký hiệu A1, A3 và A4) là ma túy, loại Heroine. Mẫu ký hiệu A1 có khối lượng 0,051 gam; mẫu ký hiệu A3 có khối lượng 0,046 gam; mẫu ký hiệu A4 có khối lượng 0,391 gam. Mẫu chất rắn dạng tinh thể màu trắng gửi giám đ (mẫu ký hiệu A2) là ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng 0,162 gam. Hoàn lại đối tượng giám đ 0,065 gam mẫu ký hiệu A2; 0,244 gam mẫu ký hiệu A4. Tất cả các đối tượng hoàn trả trong phong bì niêm phong số 44/PC09. Các mẫu ký hiệu A1 và A3 đã sử dụng hết trong quá trình giám đ.
Tại Cáo trạng số 08/CT-VKSPS-HS, ngày 30/05/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện S, tỉnh N truy tố bị cáo Võ Đình Tr về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa những người tham gia tố tụng khai nhận:
Bị cáo Võ Đình Tr khai nhận: Chiều ngày 28/02/2022, bị cáo đang ở phòng trọ mà bị cáo thuê trên đường Đinh Tiên Hoàng thuộc Tổ dân phố số 5, thị trấn K, huyện S, tỉnh N thì có Lò Văn Ch đến hỏi bị cáo “anh có để em tí” có nghĩa là Ch hỏi mua ma túy thì bị cáo nói “không có”. Sau đó bị cáo hỏi lại Ch “mi lấy bao nhiêu” tức là hỏi Ch mua ma túy bao nhiêu tiền thì Ch nói “em lấy 500.000 đồng” và Ch đưa cho bị cáo 500.000 đồng tiền mua ma túy. Sau đó bị cáo vào phòng vệ sinh của phòng trọ bị cáo đang ở lấy 01 gói ma túy đưa cho Ch thì bị lực lượng Công an huyện bắt quả tang và thu giữ tang vật là 01 gói ma túy và 500.000 đồng. Lực lượng Công an huyện khám xét phòng trọ nơi bị cáo đang ở đã phát hiện và thu giữ của bị cáo 01 chai nhựa, trên nắp chai có gắn một ống nhựa và một ống thủy tinh, trong chai không có gì là dụng cụ sử dụng ma túy; 01 gói ma túy đá và 08 gói ma túy, loại Heroine. Số ma túy mà Công an thu giữ vào chiều ngày 28/02/2022 là bị cáo mua của một người phụ nữ tên Trinh không rõ lai lịch trên đường Nguyễn Hoàng, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng. Mục đích bị cáo mua ma túy, loại Heroine là để bán lại, còn ma túy đá là để sử dụng và bán lại kiếm lời; bị cáo mới bán ma túy một lần cho Lò Văn Ch thì bị bắt quả tang, bị cáo chưa bán ma túy cho ai lần nào; số tiền 500.000 đồng là của bị cáo do bán 01 gói ma túy cho Lò Văn Ch mà có. Tất cả số ma túy, loại Heroine và ma túy đá mà Công an thu giữ vào chiều ngày 28/02/2022 trên người Lò Văn Ch và tại phòng trọ bị cáo đang ở là của bị cáo. Trong quá trình điều tra, truy tố không bị đánh đập, không bị ép cung; bị cáo không nhận tội thay cho ai, hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật.
Ông Lò Văn Ch khai nhận: Lời khai của Trường là đúng, chiều ngày 28/02/2022, tôi đến gặp Trường hỏi mua ma túy với giá 500.000 đồng thì Trường đồng ý bán ma túy cho tôi. Tôi đưa cho Trường 500.000 đồng tiền mua ma túy, sau đó Trường vào phòng trọ lấy 01 gói ma túy, loại Heroine đưa cho tôi thì bị lực lượng Công an huyện bắt quả tang. Đây là lần đầu tiên tôi mua ma túy của Trường, mục đích tôi mua ma túy là để sử dung, không có mục đích mua bán.
Luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; kết luận giám đ chất ma túy; lời khai nhận tội của bị cáo Võ Đình Tr tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa thì thấy: Chiều ngày 28/02/2022, bị cáo Võ Đình Tr đã bán 01 gói ma túy, loại Heroine có khối lượng 0,051 gam cho Lò Văn Ch với giá 500.000 đồng thì bị lực lượng Công an huyện S bắt quả tang. Qua khám xét phòng trọ nơi bị cáo ở phát hiện và thu giữ của bị cáo Trường 01 gói ma túy, loại Methaphetamine; 08 gói ma túy, loại Heroine. Mục đích bị cáo mua ma túy, loại Heroine là để bán lại và ma túy loại Methaphetamine mục đích để sử dụng và bán lại kiếm lời. Xét thấy hành vi mua bán chất ma túy của bị cáo Võ Đình Tr đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy đ tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét nhân thân bị cáo: Bị cáo Võ Đình Tr chưa có tiền án, tiền sự; tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo nên được xem là tình tiết giảm nhẹ. Nhân thân: Ngày 16/8/2013, bị Tòa án nhân dân huyện S xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và ngày 29/6/2016 bị Tòa án nhân dân huyện S xử phạt 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, bị cáo chấp hành xong hình phạt ngày 29/4/2018 đã được xóa án tích. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Từ phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Võ Đình Tr từ:
3 năm 6 tháng – 4 năm tù.
Hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo Võ Đình Tr không có việc làm và thu nhập ổn đ nên không đề nghị phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy 0,065 gam ma túy, loại Methamphetamine (mẫu ký hiệu A2); 0,244 gam ma túy, loại Heroine (mẫu ký hiệu A4) còn lại sau giám đ và 01 chai nhựa màu đỏ, trên nắp có gắn một ống nhựa và một ống thủy tinh, trong chai không chứa gì. Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 500.000 đồng của bị cáo Võ Đình Tr do phạm tội mà có.
Đối với Lò Văn Ch đã có hành vi mua 0,051 gam ma túy, loại Heroine của bị cáo Võ Đình Tr nhằm mục đích sử dụng. Hành vi của Lò Văn Ch chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Công an huyện S đã xử phạt hành chính 1.500.000 đồng nên không đề cập. Đối với người phụ nữ tên Trinh không rõ lai lịch mà bị cáo Võ Đình Tr khai đã bán ma túy cho bị cáo. Cơ quan điều tra Công an huyện S đã xác minh nhưng không có kết quả nên không đề cập.
Bị cáo Võ Đình Tr không tranh luận gì, nhận tội và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lò Văn Ch không tranh luận gì.
NHẬN Đ CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận đ như sau:
[1] Quyết đ tố tụng của Cơ quan điều tra, của điều tra viên; của Viện kiểm sát, của kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự theo quy đ của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo Võ Đình Tr không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Nên các quyết đ và hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện hợp pháp.
[2] Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo Võ Đình Tr nhận thức và biết rõ hành vi của mình là nếu thực hiện hành vi mua bán chất ma túy là vi phạm pháp luật và thấy trước được hậu quả hành vi của mình bị pháp luật cấm. Thế nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy; cụ thể: Chiều ngày 28/02/2022, bị cáo Võ Đình Tr đã bán 01 gói ma túy, loại Heroine có khối lượng 0,051 gam cho Lò Văn Ch với giá 500.000 đồng thì bị Công an huyện S bắt quả tang. Qua khám xét phòng trọ nơi bị cáo đang ở, lực lượng Công an huyện S đã phát hiện và thu giữ của bị cáo Võ Đình Tr 01 gói ma túy, loại Methaphetamine có khối lượng 0,162 gam; 08 gói ma túy, loại Heroine có khối lượng 0,437 gam. Theo lời khai nhận của bị cáo Võ Đình Tr thì tổng khối lượng ma túy, loại Heroine 0,488 gam nhằm mục đích để bán lại kiếm lời, còn 0,162 gam ma túy, loại Methaphetamine nhằm mục đích để sử dụng và bán lại kiếm lời.
Căn cứ biên bản bắt người phạm tội quả tang; các bản tự khai; biên bản lấy lời khai; biên bản hỏi cung bị cáo; kết luận giám đ chất ma túy của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh N; luận tội của kiểm sát viên; lời khai nhận tội của bị cáo và lời khai của người tham gia tố tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử xét thấy có đủ căn cứ kết luận: Hành vi mua bán chất ma túy của bị cáo Võ Đình Tr đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện S, tỉnh N đã truy tố bị cáo Võ Đình Tr theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội; tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Hành vi mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội trên địa bàn huyện. Xét thấy tình hình mua bán trái phép chất ma túy và hành vi sử dụng trái phép chất ma túy trên địa bàn huyện S diễn biến phức tạp, hành vi phạm tội ngày càng tinh vi. Theo lời khai nhận của chính bị cáo là người nghiện chất ma túy dẫn đến việc mua ma túy để sử dụng và bán lại cho người khác để kiếm lời bất hợp pháp. Bị cáo Võ Đình Tr đã từng bị xét xử về tội trộm cắp tài sản và tội tàng trữ trái phép chất ma túy, lẽ ra bị cáo phải biết lấy đó làm bài học để tự cải tạo, tự giáo dục, biết ăn năn hối cải. Thế nhưng bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy, chứng tỏ bị cáo coi thường pháp luật. Xét thấy cần xử phạt bị cáo với mức án nghiêm minh hơn và cách ly bị cáo ra ngoài xã hội để tự cai nghiện, tự cải tạo, giáo dục và răn đe, phòng ngừa tội phạm.
Xét nhân thân bị cáo: Bị cáo Võ Đình Tr chưa có tiền án, tiền sự; tại phiên tòa thành khẩn khai báo nên được xem là tình tiết giảm nhẹ quy đ tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Nhân thân: Ngày 16/8/2013, bị Tòa án nhân dân huyện S, tỉnh N xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và ngày 29/6/2016, bị Tòa án nhân dân huyện S, tỉnh N xử phạt 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt ngày 29/4/2018 nên đã được xóa án tích. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
[4] Đối với Lò Văn Ch là người mua ma túy, loại Heroine của bị cáo Trường có khối lượng 0,051 gam nhằm mục đích sử dụng, không có mục đích mua bán; khối lượng ma túy chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Cơ quan điều tra Công an huyện S, tỉnh N đã xử phạt hành chính 1.500.000 đồng nên không đề cập. Đối với người phụ nữ tên Trinh không rõ lai lịch mà bị cáo Võ Đình Tr khai đã bán ma túy cho bị cáo. Cơ quan điều tra đã xác minh nhưng không có kết quả nên không đề cập.
[5] Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên tịch thu tiêu hủy 0,065 gam ma túy, loại Metamphetamine (mẫu ký hiệu A2) và 0,244 gam ma túy, loại Heroine (mẫu ký hiệu A4) còn lại sau giám đ; các mẫu ký hiệu A1 và A3 đã sử dụng hết trong quá trình giám đ; 01 chai nhựa có gắn nắp màu đỏ, trên nắp có gắn một ống nhựa và một ống thủy tinh, bên trong chai không chứa gì. Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 500.000 đồng của bị cáo Võ Đình Tr do bán ma túy cho Lò Văn Ch mà có.
[6] Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy đ về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Võ Đình Tr phải chịu 200.000 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT Đ:
Tuyên bố bị cáo Võ Đình Tr (B) phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo:
VÕ ĐÌNH TR (B): 4 (Bốn) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 28/02/2022.
Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên:
Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 500.000 đồng (năm trăm ngàn đồng) của bị cáo Võ Đình Tr do phạm tội mà có (Hiện đang tạm gửi vào tài khoản số 4213203000010 của Công an huyện S tại Chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp huyện S, tỉnh N).
Tịch thu tiêu hủy 0,065 gam ma túy, loại Methamphetamine (mẫu ký hiệu A2) và 0,244 gam ma túy, loại Heroine (mẫu ký hiệu A4) còn lại sau giám đ; 01 (một) chai nhựa có gắn nắp màu đỏ, trên nắp có gắn một ống nhựa và một ống thủy tinh, bên trong chai không chứa gì (Hiện vật chứng đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện S, tỉnh N theo biên bản giao, nhận lập ngày 01/6/2022).
Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy đ về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Võ Đình Tr phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng).
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền làm đơn kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm.
| Nơi nhận: -Các cq tiến hành tố tụng; -Tòa án tỉnh Q.Nam; -VKS tỉnh Q.Nam; -Sở Tư pháp tỉnh Q.Nam; -Những người tham gia tố tụng; -Lưu hồ sơ vụ án | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Pơ Loong Đếch |