- Tranh chấp gì? án hình sự — "Giàng Thị M - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Giàng Thị M phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý".
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự trả lại; Điều 251 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƢỜNG NHÉ TỈNH ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 11/2022/HS-ST Ngày 28-11-2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƢỜNG NHÉ, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Dương Thị Nhung
Các hội thẩm nhân dân: Ông Vàng Văn Toàn
Bà Chu Thị Hiền
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Công Hoàn - Thư ký Toà án nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Ông Thào A Di - Kiểm sát viên.
Ngày 28/11/2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên. Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 06/2022/TLST-HS ngày 09/11/2022 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2022/QĐXXST-HS ngày 16/11/2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Giàng Thị M (Tên gọi khác: Không); Sinh năm 1995 tại xã L, huyện S, tỉnh Lai Châu; Nơi cư trú: Bản X, xã Ch, huyện M, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Nông nghiệp; Trình độ văn hoá: 6/12; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Giàng A T (sinh năm 1972) và bà Chang Thị P (sinh năm 1974); có chồng là Sùng A S (Sinh năm 1985) và có 04 người con; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Bị cáo chưa bị xử phạt hành chính, chưa bị xét xử; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 05/9/2022 đến ngày 06/9/2022, bị áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ 06/9/2022 đến nay, có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Mai Thị Thanh L Trợ giúp viên pháp lý của trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên, có mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Chị Lỳ Ha S, sinh năm 1978, trú tại: Bản Đ, xã Ch, huyện M, tỉnh Điện Biên, vắng mặt không lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ ngày 04/9/2022 Giàng Thị M một mình đi tìm mua ma túy về sử dụng và bán lẻ kiếm lời, M đi bộ từ nhà đến bản H, xã Ch, gặp và mua được của một người đàn ông dân tộc Mông lạ mặt 01 gói Heroine với giá tiền 1.000.000 đồng. Mua bán xong người đàn ông đi đâu M không biết, còn M cầm gói Heroine mua được đi về nhà rồi bẻ nhỏ cục Heroine thành nhiều cục nhỏ hơn và gói lại thành hai gói nhỏ, cất ở giường ngủ của M. Sáng 05/9/2022 M lấy hai gói Heroine đã chia trước đó mang theo người và đi nhờ xe mô tô của một người đàn ông dân tộc Mông lạ mặt đến bản Đ, xã Ch thì xuống xe, khoảng 11 giờ cùng ngày M đi bộ vào nhà Lỳ Ha S ở bản Đ, xã Ch, huyện M, qua nói chuyện và trao đổi S mua của M 01 cục nhỏ Heroine với giá 50.000 đồng. M nhận tiền từ S, cất vào túi quần rồi lấy heroine đưa cho S, khi M đưa Heroine cho S thì bị Tổ công tác công an huyện Mường Nhé phát hiện bắt quả tang, tổ công tác thu giữ trên tay trái của S 01 gói nhỏ Heroine có khối lượng 0,09 gam, thu giữ trong túi quần M 50.000 đồng, hai gói Heroine có khối lượng 2,12 gam và 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng hiệu OPPO. S khai nhận mục đích mua Heroine về sử dụng cho bản thân. M khai nhận M tàng trữ Heroine mục đích để sử dụng và bán lẻ kiếm lời.
Kết luận giám định số 1240/KL-KTHS ngày 16/9/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Khối lượng vật chứng thu giữ của Lỳ Ha S là 0,09 gam; mẫu chất bột màu trắng trích ra từ vật chứng thu giữ của Lỳ Ha S gửi giám định là chất ma túy: Loại Heroine;
Kết luận giám định số 1241/KL-KTHS ngày 16/9/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Khối lượng vật chứng thu giữ của Giàng Thị M là 2,12 gam; 04 mẫu chất bột màu trắng được ký hiệu từ M1 đến M4 trích ra từ vật chứng thu giữ của Giàng Thị M gửi giám định là chất ma túy: Loại Heroine;
Kết luận giám định số 1255/KL-KTHS ngày 16/9/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: 01 tờ tiền có mệnh giá 50.000 đ (năm mươi nghìn đồng) có mã hiệu cụ thể: HZ 19136262 là tiền thật. Hoàn lại toàn bộ mẫu vật gứi đến giám định.
Ngày 30/9/2022 Công an huyện Mường Nhé đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 30/QĐ-XPHC đối với Lỳ Ha S, hình thức phạt tiền 2.000.000 đồng.
Cáo trạng số 37/CT-VKS-MN ngày 08/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé đã truy tố Giàng Thị M để xét xử về tội: Mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên Cáo trạng truy tố, phần luận tội đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, đề nghị xử phạt bị cáo từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù; không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự; Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 1,5 gam Heroine (Số còn lại sau khi đã trích giám định); tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 50.000 đồng; trả lại cho bị cáo chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng hiệu OPPO; Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo nhất trí với Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát, nhất trí với luận tội về tội danh; điều khoản áp dụng; hình phạt bổ sung; xử lý vật chứng vụ án và án phí; phần hình phạt chính đề nghị xử phạt bị cáo ở mức thấp nhất theo đề nghị của Viện kiểm sát.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã tóm tắt ở trên và đúng như Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố. Bị cáo không tranh luận gì với luận tội của Viện kiểm sát. Lời sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Lỳ Ha S vắng mặt tại phiên tòa, các lời khai trong hồ sơ vụ án thể hiện: Ngày 05/9/2022 Só mua của M 0,09 gam Heroine với giá 50.000 đồng, mua về với mục đích để sử dụng, chưa sử dụng thì bị bắt quả tang. Lỳ Ha S đã bị xử phạt hành chính (Quyết định xử phạt số 30/QĐ-XPHC ngày 30/9/2022).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có đầy đủ lời khai, ý kiến trong hồ sơ và có đơn xin xét xử vắng mặt, xét thấy sự vắng mặt này không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.
Xét hành vi phạm tội và những căn cứ xác định tội danh của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Giàng Thị M khai: Do muốn kiếm tiền lời từ việc mua bán ma túy nên ngày 04/9/2022 bị cáo đã tìm và mua được 01 hói Heroine của một người đàn ông dân tộc Mông lạ mặt với giá 1.000.000 đồng, bị cáo mua về với mục đích để sử dụng và bán lẻ kiếm lời. Ngày 05/9/2022 bị cáo bán cho Ly Ha Só 0,09 gam Heroine với giá 50.000 đồng, khi Mể đang đưa Heroine cho Só thì bị phát hiện bắt quả tang, bị cáo Mể bị thu giữ 2,12 gam Heroine, thu giữ số tiền 50.000 đồng và 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng hiệu OPPO. Ly Ha Só bị thu giữ 0,09 gam Heroine.
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai và các bản cung có trong hồ sơ vụ án về thời gian, địa điểm thực hiện hành vi phạm tội, phù hợp với Kết luận giám định, Kết luận điều tra, Cáo trạng truy tố và các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy tổng khối lượng ma túy mà bị cáo Giàng Thị M phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mua bán trái phép chất ma túy là 2,12 gam Heroine + 0,09 ham Heroine = 2,21 gam Heroine. Như vậy, có đủ căn cứ để xác định hành vi tàng trữ trái phép 2,12 gam Heroine với mục đích để sử dụng và bán lẻ kiếm lời của bị cáo và hành vi bán cho Ly Ha S 0,09 gam Heroine của bị cáo đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số 37/CT-VKS-MN ngày 08/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé truy tố bị cáo để xét xử về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Xét tính chất vụ án: Đây là vụ án nghiêm trọng về ma túy, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách thống nhất quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, đi ngược lại đường lối chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước trong việc đấu tranh phòng ngừa các tội phạm về ma túy, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.
Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo thành khẩn khai báo nên chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về áp dụng hình phạt đối với bị cáo: Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy cần xử phạt bị cáo nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù. Người bào chữa đề nghị xử phạt bị cáo ở mức thấp nhất theo đề nghị của Viện kiểm sát. Xét đề nghị của Viện kiểm sát và người bào chữa là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật nên cần xử phạt bị cáo như đề nghị của viện kiểm sát và người bào chữa.
Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự, bị cáo còn có thể chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền, xét hoàn cảnh kinh tế gia đình của bị cáo khó khăn, xác minh tại nơi ở của bị cáo không có tài sản gì có giá trị, hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát và người bào chữa không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.
Đối với người đàn ông mà bị cáo đã đi xe máy nhờ, do bị cáo không biết tên tuổi địa chỉ của người này, Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh nên không có cơ sở để xử lý.
Đối với người đàn ông dân tộc Mông đã bán ma túy cho bị cáo, do bị cáo không biết tên tuổi địa chỉ của người này, Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh nên không có cơ sở để xử lý.
Đối với Lỳ Ha S là người đã mua ma túy của bị cáo M, mua với mục đích để sử dụng, do khối lượng Lỳ Ha S mua là 0,09 gam heroine, chưa đủ truy cứu trách nhiệm hình sự. Lỳ Ha S đã bị xử phạt vi phạm hành chính với hình thức phạt tiền 2.000.000 đồng theo quyết định xử phạt hành chính số 30/QĐ-XPHC ngày 30/9/2022 của Công an huyện Mường Nhé. Do vậy không xem xét xử lý Lỳ Ha S trong vụ án này.
Về xử lý vật chứng:
Đối với 0,09 gam Heroine thu giữ của Lỳ Ha S, cơ quan điều tra đã gửi đi giám định và không hoàn lại mẫu vật.
Đối với 1,5 gam Heroine còn lại sau khi đã trích giám định (Khối lượng Heroine thu giữ là 2,12 gam, đã trích giám định 0,43 gam, trích 0,19 gam test chất ma túy, không hoàn lại mẫu vật giám định) cần căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy.
Đối với số tiền 50.000 đồng thu giữ của bị cáo M, xét thấy đây là số tiền mà bị cáo M mua bán trái phép chất ma túy mà có nên căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
Đối với chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng hiệu OPPO, quá trình điều tra làm rõ chiếc điện thoại này không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự trả lại cho bị cáo.
Về án phí: Xét thấy bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số, thường trú ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và đã có đơn đề nghị miễn án phí nên căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát và người bào chữa miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mường Nhé, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé, Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người bào chữa. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người bào chữa đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
1. Tuyên bố bị cáo Giàng Thị M phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý".
Xử phạt bị cáo Giàng Thị M 03 (ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án và được trừ thời gian tạm giữ là 01 ngày.
2. Về vật chứng vụ án:
Căn cứ điểm b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:
Tịch thu, tiêu huỷ 1,5 gam Heroine còn lại sau khi đã trích giám định (Khối lượng Heroine thu giữ của Giàng Thị M là 2,12 gam, đã trích giám định 0,43 gam, trích 0,19 gam test chất ma túy, không hoàn lại mẫu vật giám định).
Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 50.000 đồng (Năm mươi nghìn đồng). Số tiền này hiện đang tạm gửi tại số tài khoản 3949.0.1072731.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường Nhé mở tại Kho bạc Nhà nước huyện Mường Nhé (Thu giữ của bị cáo Giàng Thị M).
Trả lại cho bị cáo Giàng Thị M 01 chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng, mặt trước màu đen, mặt sau màu xanh trắng, có chữ OPPO, điện thoại cũ đã qua sử dụng.
Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/11/2022 giữa Công an huyện Mường Nhé và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường Nhé.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 28/11/2022). Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Phòng KTNV-THA (TAND tỉnh Điện Biên); - VKSND tỉnh Điện Biên; - VKSND huyện Mường Nhé; - Nhà tạm giữ, Cơ quan THAHS, Cơ quan CSĐT Công an huyện Mường Nhé; - Chi cục THADS huyện Mường Nhé; - Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên; - Bị cáo; Người bào chữa; - Người liên quan; - Lưu HS, HSTHA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dƣơng Thị Nhung Dƣơng Thị Nhung |