vanban.org

Bản án 11/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 23/02/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo Bùi Văn N phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Xử phạt bị cáo Bùi Văn N 18 (mười tám) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ 25/12/2021. Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn N - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS nă…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Bùi Văn N phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GIA VIỄN
TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/ 2022/HS-ST
Ngày: 23/02/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA VIỄN, TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lã Hoàng Giáp.

Các hội thẩm nhân dân:

Ông Đinh Công Hiến.

Ông Đinh Duy Quyết.

.-Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Hồng - Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn tham gia phiên toà: bà Vũ Như Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 02 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 12/2022/TLST – HS ngày 26 tháng 01 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2022/QĐXXST-HS, ngày 10 tháng 02 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Bùi Văn N (tên gọi khác: không), Sinh năm 1999; tại xã GH, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình; Nơi cư trú: Xóm 3, xã GH, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình; Nghề nghiệp: làm ruộng; Trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Văn L và bà Nguyễn Thị L2; chưa có vợ con; Tiền án, Tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 22/3/2021, Công an xã GH, huyện Gia Viễn xử phạt Bùi Văn N hình thức Cảnh cáo về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo Quyết định số 10.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 25/12/2021, đến ngày 03/01/2022 chuyển tạm giam, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình (có mặt).

- Người tham gia tố tụng khác:

+ Người chứng kiến: anh Lê Văn Thái, anh Dư Mạnh Tuấn. (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Bùi Văn N sử dụng trái phép chất ma túy từ đầu năm 2021 đến nay. Khoảng 15 giờ 45 phút ngày 25/12/2021, do có nhu cầu sử dụng ma túy, N từ nhà đi bộ ra trục đường xóm 3, xã GH rồi đi nhờ xe mô tô của người đi đường sang khu vực xã Gia Tường, huyện Nho Quan, nhằm mục đích mua ma túy. Khoảng 16 giờ 15 phút cùng ngày, khi đến khu vực trường Tiểu học xã Gia Tường, huyện Nho Quan, N xuống xe mô tô. N nhìn thấy một người đàn ông không quen biết đang đứng bên đường, N đi bộ đến gần và hỏi: “Anh ơi có đá không, để em năm trăm” - ý N hỏi mua 500.000 đồng tiền ma túy đá. Người đàn ông trả lời: “Có, đưa tiền đây”. N lấy tiền 500.000 đồng đưa cho người đàn ông. Người này cầm tiền và đưa lại cho N 01 túi nilon màu trắng, kích thước (2,5x2,5)cm, miệng túi có đường viền màu xanh, bên trong đựng chất tinh thể màu trắng. Xác định đó là ma túy, N cầm túi nilon ở tay phải rồi đi nhờ xe mô tô của người đi đường đi về khu vực xã Gia Phú, huyện Gia Viễn thì xuống xe nhằm mục đích tìm nơi sử dụng ma túy. Khoảng 16 giờ 45 phút cùng ngày, khi N đang đi bộ trên đường 477, thuộc địa phận xã Gia Phú, thì gặp lực lượng Công an huyện Gia Viễn yêu cầu kiểm tra. Biết không thể che giấu hành vi phạm tội của mình, N tự nguyện giao nộp túi nilon đang cầm ở tay phải cho lực lượng Công an và khai nhận đó là ma túy đá N vừa mua về cất giấu nhằm mục đích sử dụng. Lực lượng Công an thu giữ và niêm phong của Bùi Văn N 01 túi nilon màu trắng, kích thước (2,5x2,5)cm, miệng túi có đường viền màu xanh, bên trong đựng chất tinh thể màu trắng. Ngoài ra, còn thu giữ của N số tiền 60.000 đồng.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Gia Viễn đã tiến hành cân xác định khối lượng chất dạng tinh thể màu trắng bên trong túi nilon thu giữ của Bùi Văn N, có khối lượng 0,365 gam, lấy mẫu giám định ký hiệu M, để quyết định trưng cầu giám định khối lượng và giám định chất ma túy.

Tại Kết luận giám định số 80/KLGĐ-PC09-MT ngày 31/12/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận:

- Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,3647 gam, là ma túy, loại Methamphetamine.

- Methamphetamine là chất ma túy thuộc bảng Danh mục II, số thứ tự 323; Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại, ý kiến gì về kết luận giám định nêu trên.

Tại bản Cáo trạng số 19/CT-VKS-GV ngày 25/01/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn đã truy tố Bùi Văn N ra trước Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình để xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình thực hành quyền công tố tại phiên tòa, phát biểu luận tội đã giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản Cáo trạng. Sau khi phân tích đánh giá tính chất nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Bùi Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Bùi Văn N từ 18 đến 21 Tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 25/12/2021.

Về xử lý vật chứng Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì ghi số 80/KLGĐ-PC09-MT bên trong gồm: Chất dạng tinh thể màu trắng còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,2493gam, là ma túy, loại Methamphetamine; toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong; 01 phong bì dán kín niêm phong theo quy định, bên trong gồm: 01 vỏ túi nilon màu trắng kích thước (2,5x2,5)cm, miệng túi có đường viền màu xanh, 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu.

Đối với số tiền 60.000 đồng thu giữ của Bùi Văn N, quá trình điều tra xác định là tài sản của N, không liên quan đến việc phạm tội, cần trả lại cho N nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án

Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng, không có ý kiến tranh luận đối với luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng bị cáo nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa bị cáo Trần Văn Phương khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với vật chứng của vụ án đã được thu giữ, phù hợp kết luận giám định số 80/KLGĐ-PC09-MT ngày 31/12/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án; đã có đủ cơ sở kết luận: Bùi Văn N là người sử dụng trái phép chất ma túy. Hồi 16 giờ 45 phút ngày 25/12/2021, tại khu vực đường 477, xã Gia Phú, huyện Gia Viễn, Bùi Văn N có hành vi cất giấu trái phép 0,3647 gam Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng, bị bắt quả tang.

Bộ luật Hình sự quy định:

Điều 249: Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý.

‘‘1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma tuý thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

…

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

…”

Bị cáo Bùi Văn N là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự nên hành vi của bị cáo đã phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Như vậy cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi cất giấu trái phép ma túy nhằm mục đích sử dụng cho bản thân của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây mất trật tự tại địa phương, gây dư luận xấu trên địa bàn. Mặt khác ma túy là hiểm họa của loài người, là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác, bị cáo thiếu ý thức chấp hành pháp luật nên đã đi mua ma túy, cất giấu để thỏa mãn nhu cầu bản thân, bị cáo đã coi thường pháp luật. Chính vì vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội mà mình đã gây ra. Hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý thuộc trường hợp nghiêm trọng, do vậy Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian tương xứng để giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt và phòng ngừa chung cho xã hội.

. Xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thì thấy: Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có; Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Về nhân thân: Bị cáo từng bị xử phạt vi phạm hành chính, đã chấp hành xong quyết định xử phạt vi phạm hành chính và thuộc trường hợp được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 7 Luật xử lý vi phạm hành chính.

. Về hình phạt bổ sung: Theo Khoản 5 Điều 249 BLHS thì: "5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.". Bị cáo cất giấu ma túy nhằm mục đích sử dụng cho bản thân, không có mục đích vụ lợi, bản thân bị cáo làm ruộng, không có đồ vật tài sản có giá trị, do đó Hội đồng xét xử xét thấy không cần áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.

. Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Đối với 01 phong bì ghi số 80/KLGĐ-PC09-MT bên trong gồm: Chất dạng tinh thể màu trắng còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,2493gam, là ma túy, loại Methamphetamine; toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong; 01 phong bì dán kín niêm phong theo quy định, bên trong gồm: 01 vỏ túi nilon màu trắng kích thước (2,5x2,5)cm, miệng túi có đường viền màu xanh, 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu.

Đối với số tiền 60.000 đồng thu giữ của Bùi Văn N, quá trình điều tra xác định là tài sản của N, không liên quan đến việc phạm tội, cần trả lại cho N nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án

. Về nguồn gốc số ma túy, bị cáo khai mua của một người đàn ông không quen biết ở khu vực trường Tiểu học xã Gia Tường, huyện Nho Quan nên không đủ căn cứ để xác minh, làm rõ, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Đối với người đàn ông đã bán trái phép ma túy cho N ngày 25/12/2021. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Gia Viễn đã tiến hành điều tra xác minh, nhưng không đủ căn cứ để xác định do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

. Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng Hình sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Từ những nhận định trên cho thấy đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn tại phiên tòa về tội danh, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân cần áp dụng đối với bị cáo là đúng quy định của pháp luật, phù hợp với quan điểm xử lý của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: bị cáo Bùi Văn N phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Bùi Văn N 18 (mười tám) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ 25/12/2021.

2. Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì ghi số 80/KLGĐ-PC09-MT bên trong gồm: Chất dạng tinh thể màu trắng còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,2493gam, là ma túy, loại Methamphetamine; toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong; 01 phong bì dán kín niêm phong theo quy định, bên trong gồm: 01 vỏ túi nilon màu trắng kích thước (2,5x2,5)cm, miệng túi có đường viền màu xanh, 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu.

Trả lại cho Bùi Văn N số tiền 60.000 đồng nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án

(Căn cứ theo ủy nhiệm chi ngày 27/01/2022;Chi tiết các vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Gia Viễn và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gia Viễn ngày 27/01/2022).

3. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của ủy ban Thường vụ Quốc Hội; Buộc bị cáo Bùi Văn N phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án 23/02/2022.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ