- Tranh chấp gì? án hình sự — "HUYNH TAN T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Huỳnh Tấn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Luật Phí và lệ phí; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 11/2022/HS-ST Ngày 20-01-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Thủy.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Ngọc Cảnh;
Bà Nguyễn Phước Trinh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Văn Bé – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Diệu – Kiểm sát viên.
Trong ngày 20 tháng 01 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 263/2021/TLST-HS ngày 31 tháng 12 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2022/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 01 năm 2022 đối với bị cáo:
Huỳnh Tấn T, sinh ngày 08 tháng 02 năm 2003 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký thường trú: Ấp B, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông H và bà N; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/10/2021 cho đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông K, sinh năm 1970 (vắng mặt).
Địa chỉ: xã L, huyện M, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 24 tháng 10 năm 2021, Huỳnh Tấn T gọi điện thoại cho người thanh niên (chưa rõ lai lịch) hỏi mua 03 viên thuốc lắc, 01 gói ma túy loại Ketamine với tổng số tiền 3.400.000 đồng và được người thanh niên hẹn đến khu vực đồng ruộng trên đường Tỉnh lộ 15, xã I, huyện C, Thành phố Hố Chí Minh để nhận chất ma túy. T điều khiển xe mô tô biển số 50Y1-624.77 từ nhà tại ấp B, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh đến địa điểm đã hẹn để giao tiền và nhận chất ma túy. Sau khi nhận được chất ma túy, T cất giấu 03 viên thuốc lắc và 01 gói ma túy loại Ketamine giữa lòng bàn chân trái và chiếc dép trái rồi điều khiển xe về nhà. Đến khoảng 02 giờ 10 cùng ngày, khi T điều khiển xe máy đến trước nhà số 16 Tỉnh lộ 15, ấp P, xã Ph, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh thì bị Công an phát hiện bắt quả tang.
Tại Kết luận giám định số 5744/KLGĐ-MT ngày 29 tháng 10 năm 2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận:
Tinh thể không màu trong 01 gói nylon là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,9594g (một phẩy chín năm chín bốn gam), loại Ketamine.
01 viên nén màu xám là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,3936g (không phẩy ba chín ba sáu gam), loại MDMA.
Các mảnh vỡ của viên nén màu xám đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 0,7426g (không phẩy bảy bốn hai sáu gam), loại MDMA.
Vật chứng thu giữ: 01 gói niêm phong mang số vụ 1288/2021 có chữ ký niêm phong của Giám định viên và Điều tra viên; 01 điện thoại di động hiệu Iphone, màu vàng đồng, số Imei 1: 357270094871892, số Imei 2: 357270094973045.
Tại bản Cáo trạng số 10/CT-VKS.CC ngày 23 tháng 12 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị can Huỳnh Tấn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm i Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Huỳnh Tấn T thừa nhận hành vi phạm tội và khai rằng: Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 24 tháng 10 năm 2021, bị cáo sử dụng điện thoại di động của bị cáo điện vào số điện thoại 0379142503 để gặp người thanh niên hỏi mua ma túy về sử dụng với giá 3.400.000 đồng thì người thanh niên đồng ý và hẹn địa điểm giao nhận ma túy tại khu vực đồng ruộng trên đường Tỉnh lộ 15, xã I, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Sau đó, bị cáo điều khiển xe máy biển số 50Y1-624.77 đến điểm hẹn để gặp người thanh niên giao tiền và nhận chất ma túy. Sau khi giao tiền và nhận chất ma túy, bị cáo để gói ma túy giữa lòng bàn chân trái và chiếc dép bên trái rồi điều khiển xe quay về nhà. Khi bị cáo đang lưu thông trên đường Tỉnh lộ 15, ấp P, xã Ph, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang, thu giữ 01 gói chất ma túy, 01 điện thoại di động hiệu Iphone và 01 xe máy biển số 50Y1-624.77.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi giữ quyền công tố phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng Điểm i Khoản 1 Điều 249, Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Huỳnh Tấn T mức án từ 02 (hai) năm 6 (sáu) tháng tù đến 03 (ba) năm tù.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong mang số vụ 1288/2021 có chữ ký niêm phong của Giám định viên và Điều tra viên; tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone, màu vàng đồng, số Imei 1: 357270094871892, số Imei 2: 357270094973045; 01 xe máy biển số 50Y1-624.77, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu.
Bị cáo Huỳnh Tấn T không tranh luận, không tự bào chữa.
Bị cáo Huỳnh Tấn T nói lời sau cùng: Bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng:
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Củ Chi, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh; điều luật áp dụng; tính chất, mức độ của hành vi phạm tội:
Bị cáo Huỳnh Tấn T có hành vi tàng trữ hạt tinh thể không màu trong 01 gói nylon được niêm phong bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Huỳnh Tấn T và hình dấu Công an xã Ph, huyện C là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,9594g, loại Ketamine và 01 viên nén màu xám và các mảnh vỡ của viên nén màu xám được niêm phong bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Huỳnh Tấn T và hình dấu Công an xã Ph, huyện C định là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 1,1362g, loại MDMA (Kết luận giám định số 5744/KLGĐ-MT ngày 29 tháng 10 năm 2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh) nhằm mục đích sử dụng. Bằng hành vi trên bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điểm i Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Do đó Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi truy tố bị cáo Huỳnh Tấn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo Huỳnh Tấn T là nguy hiểm, với phương thức đi mua chất ma túy về lưu giữ, cất giấu để sử dụng. Hành vi này chẳng những đã trực tiếp xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về trật tự quản lý hành chính, lĩnh vực quản lý dược liệu, dược phẩm độc hại mà còn gây mất trật tự an toàn xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến đời sống sinh hoạt của mọi người. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo nhận thức rõ chất ma túy là mặt hàng Nhà nước cấm tàng trữ, việc bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy là phạm pháp, là tiếp tay cho các phần tử xấu gây nguy hại cho xã hội, thế nhưng bị cáo vẫn ngang nhiên đi đến hành động phạm tội nhằm thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy. Do vậy, Hội đồng xét xử thấy cần phải xử lý bị cáo bằng một hình phạt nghiêm là cần thiết.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, xét tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử áp dụng Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ cho bị cáo phần nào về hình phạt là có căn cứ.
Về hình phạt bổ sung:
Bị cáo mua chất ma túy nhằm mục đích sử dụng, Hội đồng xét xử xét không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại Điều 32 và Khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Về vật chứng vụ án:
01 gói niêm phong mang số vụ 1288/2021 có chữ ký niêm phong của Giám định viên và Điều tra viên, Hội đồng xét xử xét cần tịch thu tiêu hủy.
01 điện thoại di động hiệu Iphone, màu vàng đồng, số Imei 1: 357270094871892, số Imei 2: 357270094973045. Đây là tài sản bị cáo dùng vào việc phạm tội, Hội đồng xét xử xét cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
01 xe máy biển số 50Y1-624.77. Đây là tài sản của ông K. Bị cáo sử dụng xe máy nói trên vào việc phạm tội, ông K không biết. Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Củ Chi đã trả lại cho ông K. Hội đồng xét xử xét xử lý trên là phù hợp nên không xét.
Về các vấn đề khác:
Bị cáo khai có người thanh niên (chưa rõ lai lịch) là người đã bán ma túy cho bị cáo. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Củ Chi sẽ tiếp tục xác minh, làm rõ và xử lý sau nên Hội đồng xét xử không xét.
Về nghĩa vụ chịu án phí:
Buộc bị cáo Huỳnh Tấn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Huỳnh Tấn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ vào Điểm i Khoản 1 Điều 249, Điều 38, Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Huỳnh Tấn T 02 (hai) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24 tháng 10 năm 2021.
Căn cứ vào Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong mang số vụ 1288/2021 có chữ ký niêm phong của Giám định viên và Điều tra viên.
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Iphone, màu vàng đồng, số Imei 1: 357270094871892, số Imei 2: 357270094973045.
(Các vật chứng trên được liệt kê tại Phiếu nhập kho vật chứng số 212/PNK ngày 13 tháng 12 năm 2021 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Củ Chi).
Căn cứ vào Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Phí và lệ phí năm 2015, Điểm a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Án phí hình sự sơ thẩm 200.000 (hai trăm nghìn) đồng buộc bị cáo Huỳnh Tấn T phải chịu.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND Thành phố Hồ Chí Minh; - VKSND Thành phố Hồ Chí Minh; - Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh; - VKSND huyện Củ Chi; - Công an huyện Củ Chi; - Chi cục THADS huyện Củ Chi; - Bị cáo; - Đương sự; - Lưu: HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |