vanban.org

Bản án 11/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh Tuyên án 23/02/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Thạch Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Thạch Đ 07 (bảy) năm tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 29 tháng 9 năm 2021. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47; Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ trái phép chất ma túy bị cáo Thạch Đ - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Thạch Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CẦU NGANG
TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2022/HS-ST.
Ngày 23/02/2022.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU NGANG TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Thanh Lâm.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Được.

Ông Nguyễn Tấn Sĩ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Đầy, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Hứa Văn Biên - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 02 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 06/2021/TLST-HS, ngày 30 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2022/QĐXXST-HS, ngày 08 tháng 02 năm 2022 đối với:

Bị cáo Thạch Đ, sinh ngày 09 tháng 12 năm 1994, nơi sinh tại tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: Không. Nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh; trình độ học vấn 4/12; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; Tôn giáo: phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Sơn H, sinh năm 1970 và bà Thạch Thị P, sinh năm 1973; anh, chị, em ruột chỉ một mình bị cáo. Tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Có án tích. Ngày 18/6/2014, bị Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh xử phạt 01 năm tù về tội Cố ý gây thương tích (đã được xóa án tích). Bị cáo bị tạm giữ hình sự ngày 29/9/2021, đến ngày 05/10/2021 chuyển tạm giam cho đến nay. Bị cáo có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Hồng T, là Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Trà Vinh. Có mặt.

Người làm chứng:

- Anh Trần Lâm C, sinh năm 1998. Vắng mặt không lý do.

- Anh Trần Lâm V, sinh năm 2000. Vắng mặt không lý do.

- Anh Kim Tấn T, sinh năm 2000. Vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

- Chị Thạch Thị Ngọc H, sinh năm 1980. Vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

Cùng cư trú: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

- Anh Hàn Nhật M, sinh năm 1997. Địa chỉ: Ấp B, xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Vắng mặt không lý do.

Người phiên dịch: Ông Kim Na Rinh - Nguyên Cán bộ phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh. Có mặt.

Vật chứng cần đưa ra xem xét tại phiên tòa gồm:

- 02 gói niêm phong mẫu vật hoàn trả số 509/M1; 509/M2 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Trà Vinh, có chữ ký của người chứng kiến Nguyễn Văn M và cán bộ Trương Chí N, có đóng dấu hình tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Trà Vinh.

- 01 điện thoại Oppo, màu vàng đồng, số IMEI 868499030692235; 01 điện thoại Nokia, số IMEI 35311510663399; 01 xe mô tô màu xanh - đen, không bửng chắn gió, không nhãn hiệu, biển số 84K1- 5657; 01 cân điện tử màu đen, có chữ Amput, kích thước 7 x 4,2 x 01 cm; 01 kéo bằng kim loại màu bạc, kích thước 9,5 x 06 cm; 01 ống quẹt ga màu đỏ, kích thước 08 x 02 cm; 01 ống nhựa trong suốt, nhọn hai đầu, kích thước 0,5x 10 cm; 01 kéo bằng kim loại màu bạc, kích thước 16 x 5,2 cm; 01 cây kẹp bằng kim loại màu bạc, kích thước 16 x 07 cm; 01 chai nhựa màu xanh có dòng chữ 7 Up, kích thước 20 x 06 cm; 01 ống thủy tinh, dài 19 cm, đường kính lớn nhất 1,3 cm, nhỏ nhất 0,5 cm; 01 ống hút màu trắng có đoạn co giản ở giữa, dài 23 cm, rộng 0,5 cm;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 28/9/2021, bị can Thạch Đ mua 1.000.000 đồng ma túy tổng hợp của người tên C (chưa rõ họ tên, địa chỉ), sau đó bị can chia ma túy ra làm 06 tép nhỏ, lấy 01 tép sử dụng tại nhà, còn lại 05 tép bị can để chung trong một túi ny lon rồi cất giấu vào túi quần, mục đích để bán kiếm tiền tiêu xài và mua ma túy tiếp.

Đến khoảng 10 giờ ngày 29/9/2021, Hàn Nhật M, ngụ ấp B, xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh gọi vào điện thoại di động của bị can hiệu Oppo, màu vàng đồng hỏi mua 01 tép ma túy giá 700.000 đồng, bị can đồng ý bán và hẹn gặp M tại tiệm game T thuộc ấp T, xã T, huyện C để giao nhận ma túy. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, bị can điều khiển xe mô tô loại Wave, biển số 84K1-5657 đi bán ma túy cho M, trên đường đi bị can cầm 05 tép ma túy trong lòng bàn tay phải, trong đó có 04 tép ma túy bị can để chung trong 01 túi ny lon, còn 01 tép ma túy bị can để bên ngoài mục đích khi đến chỗ hẹn sẽ giao tép ma túy này cho M và nhận tiền. Khi bị can điều khiển xe mô tô chạy đến tiệm tạp hóa của chị Thạch Thị Ngọc H, ngụ ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh, chưa kịp giao ma túy cho M, lúc này bị can nghi có Công an phát hiện nên ném hết số ma túy đang cầm trên tay vào trong tiệm tạp hóa của chị H thì bị lực lượng Công an huyện C phát hiện bắt quả tang, thu giữ và niêm phong các vật chứng gồm: 05 tép ma túy; 02 điện thoại di động (01 cái hiệu Oppo, 01 cái hiệu Nokia); Tiền Việt Nam 1.030.000 đồng và 01 xe mô tô biển số 84K1-5657.

Tiếp sau đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của bị can Thạch Đ, quản lý niêm phong các đồ vật gồm: 01 cân điện tử; 01 ống quẹt ga màu đỏ; 02 cây kéo bằng kim loại màu bạc; 01 ống nhựa; 01 cây kẹp bằng kim loại màu bạc; 01 chai nhựa màu xanh có dòng chữ 7Up; 01 ống thủy tinh; 01 ống hút màu trắng có đoạn co giãn ở giữa.

Căn cứ Kết luận giám định số: 509/KLGĐ ngày 04 tháng 10 năm 2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Trà Vinh, kết luận:

- Tinh thể màu trắng chứa trong 01 (một) túi nylon được niêm phong ký hiệu M1 gửi giám định là Ma túy; Loại Methamphetamine; khối lượng là 0,0431 gam.

- Tinh thể màu trắng chứa trong 04 (bốn) túi nylon được niêm phong ký hiệu M2 gửi giám định đều là Ma túy; Loại Methamphetamine; tổng khối lượng là 0,1758 gam.

Như vậy, tổng khối lượng 05 tép ma túy thu giữ khi bắt quả tang là 0,2189 gam.

Ngày 04/10/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với Thạch Đ về hành vi Mua bán trái phép chất ma túy và áp dụng biện pháp ngăn chặn ra lệnh tạm giam phục vụ công tác điều tra.

Trong quá trình điều tra vụ án, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Cầu Ngang còn chứng minh được trước đó bị can Thạch Đ còn bán ma túy thêm 02 lần, bán tại nhà của bị can ngụ ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh, cụ thể như sau:

- Lần 01: Vào ngày 25/9/2021, bị can bán cho anh Trần Lâm C, sinh năm 1998, ngụ ấp T, xã T, huyện C 01 tép ma túy giá 200.000 đồng, lần này có em ruột của anh C tên Trần Lâm V, sinh năm 2000, ngụ ấp T, xã T, huyện C cùng đi theo. Sau khi nhận ma túy của bị can, anh C và anh V cùng nhau sử dụng số ma túy đã mua tại nhà của bị can.

- Lần 02: Vào ngày 26/9/2021, bị can bán cho anh Kim Tấn T, sinh năm 2000, ngụ ấp T, xã T, huyện C 01 tép ma túy giá 200.000 đồng. Sau khi nhận ma túy của bị can, anh T sử dụng ma túy tại nhà của bị can.

Đối với người tên C không rõ họ, tên, địa chỉ, đã bán ma túy cho bị can Thạch Đ, khi nào mời làm việc được sẽ xử lý sau.

Đối với Sơn B, qua làm việc B khai nhận vào ngày 29/9/2021 bị can Đ có nhờ anh B cầm 01 tép ma túy và điều khiển xe mô tô của bị can biển số 84K1-5657 đi đến tiệm game T để giao ma túy cho Hàn Nhật M, khi đi một đoạn thì xe hết xăng nên B quay trở lại trả tép ma túy và xe mô tô cho bị can, B không đi giao ma túy dùm cho bị can nữa, còn bị can Đ không thừa nhận có nhờ Sơn B đi giao ma túy hộ. Do đó, không có cơ sở để xử lý Sơn B.

Tại bản Cáo trạng số: 27/CT-VKS-HS, ngày 29/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh, đã quyết định truy tố bị can Thạch Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Thạch Đ khai nhận: Khoảng 11 giờ ngày 29/9/2021, tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh, bị cáo có hành vi Mua bán trái phép chất ma túy cho anh Hàn Nhật M thì bị Công an huyện C bắt quả tang, thu giữ 05 tép ma túy và các vật chứng khác có liên quan.

Tại phiên tòa bị cáo thống nhất Kết luận giám định số: 509/KLGĐ ngày 04 tháng 10 năm 2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Trà Vinh, kết luận: Tinh thể màu trắng chứa trong 01 túi nylon được niêm phong ký hiệu M1 gửi giám định là Ma túy; Loại Methamphetamine; khối lượng là 0,0431 gam; Tinh thể màu trắng chứa trong 04 túi nylon được niêm phong ký hiệu M2 gửi giám định đều là Ma túy; Loại Methamphetamine; tổng khối lượng là 0,1758 gam. Tổng khối lượng 05 tép ma túy thu giữ khi bắt quả tang là 0,2189 gam.

Ngoài ra, bị cáo Thạch Đ còn khai nhận trước đó đã bán ma túy 02 lần, bán tại nhà của bị cáo ngụ ấp T, xã T, huyện C cụ thể như sau:

- Lần 01: Vào ngày 25/9/2021, bị cáo bán cho anh Trần Lâm C, sinh năm 1998, ngụ ấp T, xã T, huyện C 01 tép ma túy giá 200.000 đồng, lần này có em ruột của anh C tên Trần Lâm V, sinh năm 2000, ngụ ấp T, xã T, huyện C cùng đi theo. Sau khi nhận ma túy của bị cáo, anh C và anh V cùng nhau sử dụng số ma túy đã mua tại nhà của bị cáo.

- Lần 02: Vào ngày 26/9/2021, bị cáo bán cho anh Kim Tấn T, sinh năm 2000, ngụ ấp T, xã T, huyện C 01 tép ma túy giá 200.000 đồng. Sau khi nhận ma túy của bị cáo, anh T sử dụng tại nhà của bị cáo.

Các tờ tường trình, các biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung bị cáo khai là tự nguyện, đúng sự thật, không ai ép buộc, bị cáo thống nhất nội dung bản Cáo trạng, không có ý kiến bổ sung hay khiếu nại gì về nội dung bản Cáo trạng, mà thống nhất quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Tại các biên bản ghi lời khai được đánh bút lục từ số 175-183 anh Hàn Nhật M khai: Vào khoảng 10 giờ ngày 29/9/2021, anh có gọi điện thoại vào máy di động của bị cáo hỏi mua 01 tép ma túy với giá 700.000 đồng, bị cáo đồng ý bán và hẹn gặp nhau tại tiệm game T thuộc ấp T, xã T, để giao ma túy và nhận tiền. Khi anh chạy xe mô tô đến gần đường vào ấp T thì nhìn thấy bị cáo Đ chạy xe mô tô hướng về tiệm tạp hóa của Thạch Thị Ngọc H, lúc này anh điều khiển xe chạy theo sau xe bị cáo, nhìn thấy bị cáo dựng xe đi vào tiệm tạp hóa của chị Thạch Thị Ngọc H, ngụ ấp T, xã T, lúc này có 02 người thanh niên đi cùng phía sau đến bắt bị cáo Đ, anh biết là Công an nên bỏ chạy.

Tại các biên bản ghi lời khai được đánh bút lục từ số 184-188 anh Trần Lâm C khai: Vào ngày 25/9/2021, bị cáo có bán cho anh (Trần Lâm C) 01 tép ma túy giá 200.000 đồng, khi mua ma túy có em ruột của anh tên Trần Lâm V cùng đi theo. Sau khi nhận ma túy anh và V cùng sử dụng ma túy tại nhà của bị cáo Thạch Đ

Tại các biên bản ghi lời khai được đánh bút lục từ số 165-169 anh Kim Tấn T khai: Vào ngày 26/9/2021, bị cáo có bán cho anh 01 tép ma túy giá 200.000 đồng. Sau khi nhận ma túy, anh sử dụng ma túy tại nhà của bị cáo Thạch Đ.

Tại phiên tòa, bị cáo Thạch Đ xác nhận lời khai của anh Hàn Nhật M; anh Trần Lâm C và anh Kim Tấn T trình bày khai báo nội dung nêu trên là đúng sự thật. Bị cáo không có ý kiến gì khác.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên ông Hứa Văn B đại diện cho Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Ngang vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng đã nêu.

Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Thạch Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Thạch Đ từ 07 năm đến 08 năm tù. Ngoài ra Kiểm sát viên còn đề nghị xử lý vật chứng và buộc bị cáo nộp án phí hình sự theo quy định pháp luật.

Trợ giúp viên pháp lý bà Nguyễn Thị Hồng T bào chữa cho bị cáo Thạch Đ trình bày: Thống nhất bản Cáo trạng số: 27/CT-VKS-HS, ngày 29/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Ngang truy tố bị cáo Thạch Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là đúng quy định pháp luật. Trợ giúp viên pháp lý không bào chữa về tội danh và khung hình phạt, mà chỉ đưa ra các tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo như:

Bị cáo xuất thân hoàn cảnh gia đình khó khăn, cha mẹ ly hôn, bị cáo sống với bà ngoại tuổi già nên thiếu sự quản lý giáo dục từ đó bị cáo đã sử dụng ma túy nhiều lần nên bị nghiện, để thỏa mãn cơn nghiện bị cáo mới mua ma túy về vừa sử dụng, vừa bán lại để có tiền mua ma túy tiếp. Quá trình điều tra bị cáo tự khai ra 02 lần mua bán ma túy trước đó, thể hiện bị cáo ăn năn hối cải hành vi sai trái của mình là muốn nhận được sự khoan hồng của pháp luật. Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đề nghị áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xem xét xử phạt bị cáo mức án thấp nhất của khung hình phạt. Về xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm đề nghị xem xét giải quyết theo quy định pháp luật. Ngoài ra không có yêu cầu gì khác.

Bị cáo Thạch Đ nói lời sau cùng: Bị cáo thừa nhận ngày 25/9/2021, bị cáo bán cho anh Trần Lâm C, 01 tép ma túy giá 200.000 đồng; ngày 26/9/2021, bị cáo bán cho anh Kim Tấn T, 01 tép ma túy giá 200.000 đồng; vào khoảng 11 giờ ngày 29/9/2021, bị cáo bán ma túy bị cho anh Hàn Nhật M thì Công an huyện Cầu Ngang bắt quả tang. Tổng khối lượng 05 tép ma túy thu giữ khi bắt quả tang là 0,2189 gam. Bị cáo có tội và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Thạch Đ khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng mô tả, phù hợp với lời khai, biên bản hỏi cung của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện:

Vào ngày 28/9/2021, bị cáo mua 1.000.000 đồng ma túy tổng hợp của người tên C (chưa rõ họ tên, địa chỉ), sau đó bị cáo chia ma túy ra làm 06 tép nhỏ, lấy 01 tép sử dụng tại nhà, còn lại 05 tép bị cáo để chung trong một túi ny lon rồi cất giấu vào túi quần, mục đích để bán kiếm tiền tiêu xài và mua ma túy tiếp. Đến khoảng 10 giờ ngày 29/9/2021, Hàn Nhật M, ngụ ấp B, xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh gọi vào điện thoại di động của bị cáo hỏi mua 01 tép ma túy giá 700.000 đồng, bị cáo đồng ý bán và hẹn gặp M tại tiệm game T thuộc ấp T, xã T, huyện C để giao nhận ma túy. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, bị cáo điều khiển xe mô tô loại Wave, biển số 84K1-5657 đi bán ma túy cho M, trên đường đi bị cáo cầm 05 tép ma túy trong lòng bàn tay phải, trong đó có 04 tép ma túy bị cáo để chung trong 01 túi nylon, còn 01 tép ma túy bị cáo để bên ngoài mục đích khi đến chỗ hẹn sẽ giao tép ma túy này cho M và nhận tiền. Khi bị cáo điều khiển xe mô tô chạy đến tiệm tạp hóa của chị Thạch Thị Ngọc H chưa kịp giao ma túy cho M, bị cáo nghi có Công an phát hiện nên ném hết số ma túy đang cầm vào trong tiệm tạp hóa của chị H thì bị lực lượng Công an huyện C phát hiện bắt quả tang, thu giữ và niêm phong vật chứng theo quy định pháp luật.

Căn cứ Kết luận giám định số: 509/KLGĐ ngày 04 tháng 10 năm 2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Trà Vinh, kết luận:

- Tinh thể màu trắng chứa trong 01 túi nylon được niêm phong ký hiệu M1 gửi giám định là Ma túy; Loại Methamphetamine; khối lượng là 0,0431 gam.

- Tinh thể màu trắng chứa trong 04 túi nylon được niêm phong ký hiệu M2 gửi giám định đều là Ma túy; Loại Methamphetamine; tổng khối lượng là 0,1758 gam.

Như vậy, tổng khối lượng 05 tép ma túy thu giữ khi bắt quả tang là 0,2189 gam.

Ngoài ra bị cáo Thạch Đ khai nhận trước đó còn bán ma túy 02 lần, bán tại nhà của bị cáo ngụ ấp T, xã T, huyện C cụ thể như sau:

- Lần 01: Vào ngày 25/9/2021, bị cáo bán cho anh Trần Lâm C, sinh năm 1998, ngụ ấp T, xã T, huyện C 01 tép ma túy giá 200.000 đồng, lần này có em ruột của anh C tên Trần Lâm V, sinh năm 2000, ngụ ấp T, xã T, huyện C cùng đi theo. Sau khi nhận ma túy của bị cáo, anh C và anh V cùng nhau sử dụng số ma túy đã mua tại nhà của bị cáo.

- Lần 02: Vào ngày 26/9/2021, bị cáo bán cho anh Kim Tấn T, sinh năm 2000, ngụ ấp T, xã T, huyện C 01 tép ma túy giá 200.000 đồng. Sau khi nhận ma túy của bị cáo, anh T sử dụng tại nhà của bị cáo.

Xét lời khai hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay là phù hợp với lời khai của những người làm chứng, phù hợp kết quả điều tra và diễn biến của vụ án. Từ đó, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Thạch Đ đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

Tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử đã thẩm tra các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử thấy rằng các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đều đúng quy định pháp luật. Những người tham gia tố tụng không có khiếu nại hoặc có ý kiến nào khác phản đối các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng nên các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương, xâm phạm chế độ quản lý nhà nước về ma túy, ma túy là chất độc hại, chất gây nghiện, ảnh hưởng đến sức khỏe con người, đồng thời phát sinh nhiều loại tội phạm khác, do đó mọi hành vi mua bán trái phép chất ma túy đều bị pháp luật nghiêm cấm và trừng trị nghiêm khắc. Bị cáo biết rõ tác hại của ma túy gây ra đối với con người, gia đình và xã hội, bản thân bị cáo sử dụng ma túy nhiều lần và bị nghiện nên bị cáo mới mua ma túy đem về vừa sử dụng, vừa bán lại cho các con nghiện, từ đó đã dẫn bị cáo đến con đường phạm tội.

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

- Về các tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự sẽ được áp dụng khi quyết định hình phạt.

Xét tính chất của vụ án là rất nghiêm trọng, bị cáo thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy với thủ đoạn hết sức tinh vi, nhằm trốn tránh sự kiểm soát của các cơ quan chức năng, làm ảnh hưởng đến công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, nhất là tội phạm về ma túy trong tình hình hiện nay.

Trong khoảng thời gian ngắn bị cáo thực hiện hành vi mua bán ma túy 03 lần cụ thể: Ngày 25/9/2021, bị cáo bán cho anh Trần Lâm C, 01 tép ma túy giá 200.000 đồng, ngày 26/9/2021, bị cáo bán cho anh Kim Tấn T, 01 tép ma túy giá 200.000 đồng; khoảng 11 giờ ngày 29/9/2021, bị cáo bán ma túy cho anh Hàn Nhật M thì Công an huyện Cầu Ngang bắt quả tang, thu giữ 05 tép ma túy đem đi giám định kết luận đều là ma túy, loại Methamphetamine, có tổng khối lượng là 0,2189 gam.

Trong vụ án này bị cáo thực hiện hành vi phạm tội 02 lần trở lên, đây là tình tiết tăng nặng định khung hình phạt quy định tại điểm b khoản 2 điều 251 của Bộ luật Hình sự, mặt khác xét nhân thân của bị cáo có án tích, nhưng bị cáo không biết hối cải, khắc phục hành vi sai trái để trở thành người công dân tốt mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội mới, thể hiện bị cáo xem thường pháp luật. Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử quyết định xử phạt bị cáo Thạch Đ một mức hình phạt tù nhất định, cách ly ra khỏi xã hội một thời gian dài nhằm cải tạo giáo dục bị cáo nói riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.

. Về xử lý vật chứng:

- Đối với các vật chứng gồm: 02 gói niêm phong mẫu vật hoàn trả số 509/M1; 509/M2 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Trà Vinh, có chữ ký của người chứng kiến Nguyễn Văn M và cán bộ Trương Chí N, có đóng dấu hình tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Trà Vinh. Đây là chất ma túy cấm lưu hành. Hội đồng xét xử quyết định tuyên tịch thu tiêu hủy.

- Đối với các vật chứng gồm: 01 cân điện tử màu đen, có chữ Amput, kích thước 7 x 4,2 x 01 cm; 01 kéo bằng kim loại màu bạc, kích thước 9,5 x 06 cm; 01 ống quẹt ga màu đỏ, kích thước 08 x 02 cm; 01 ống nhựa trong suốt, nhọn hai đầu, kích thước 0,5x 10 cm; 01 kéo bằng kim loại màu bạc, kích thước 16 x 5,2 cm; 01 cây kẹp bằng kim loại màu bạc, kích thước 16 x 07 cm; 01 chai nhựa màu xanh có dòng chữ 7 Up, kích thước 20 x 06 cm; 01 ống thủy tinh, dài 19 cm, đường kính lớn nhất 1,3 cm, nhỏ nhất 0,5 cm; 01 ống hút màu trắng có đoạn co giản ở giữa, dài 23 cm, rộng 0,5 cm. Bị cáo đã sử dụng các vật chứng này vừa làm công cụ để phân tép ma túy ra để bán, vừa làm công cụ sử dụng ma túy, hiện các vật chứng này không còn giá trị sử dụng. Hội đồng xét xử quyết định tuyên tịch thu tiêu hủy.

- Đối với các vật chứng gồm: 01 điện thoại Oppo, màu vàng đồng, số IMEI 868499030692235 và 01 xe mô tô màu xanh - đen, không bửng chắn gió, không nhãn hiệu, biển số 84K1- 5657. Bị cáo đã sử dụng các vật chứng này để làm công cụ, phương tiện phạm tội mua bán trái phép chất ma túy. Hội đồng xét xử quyết định tuyên tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước.

- Đối với 01 điện thoại Nokia, số IMEI 35311510663399: Bị cáo không có sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội. Hội đồng xét xử tuyên trả lại cho bị cáo.

. Về án phí: Buộc bị cáo Thạch Đ nộp 200.000 đồng án phí.

. Xét lời của Trợ giúp viên pháp lý bà Nguyễn Thị Hồng T trình bày lời bào chữa cho bị cáo Thạch Đ đưa ra các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nêu trên là có căn cứ và được Hội đồng xét xử chấp nhận.

. Xét lời luận tội của Kiểm sát viên trình bày về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt, xử lý vật chứng và án phí hình sự sơ thẩm nêu trên là có căn cứ và được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Thạch Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Thạch Đ 07 (bảy) năm tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 29 tháng 9 năm 2021.

2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47; Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

+ Tuyên tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước gồm: 01 điện thoại Oppo, màu vàng đồng, số IMEI 868499030692235; 01 xe mô tô màu xanh - đen, không bửng chắn gió, không nhãn hiệu, biển số 84K1- 5657.

+ Tuyên trả cho bị cáo Thạch Đ nhận: 01 điện thoại Nokia, số IMEI 35311510663399.

+ Tuyên tịch thu tiêu hủy:

02 gói niêm phong mẫu vật hoàn trả số 509/M1; 509/M2 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Trà Vinh, có chữ ký của người chứng kiến Nguyễn Văn M và cán bộ Trương Chí N, có đóng dấu hình tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Trà Vinh.

- 01 cân điện tử màu đen, có chữ Amput, kích thước 7 x 4,2 x 01 cm;

- 01 kéo bằng kim loại màu bạc, kích thước 9,5 x 06 cm;

- 01 ống quẹt ga màu đỏ, kích thước 08 x 02 cm;

- 01 ống nhựa trong suốt, nhọn hai đầu, kích thước 0,5x 10 cm;

- 01 kéo bằng kim loại màu bạc, kích thước 16 x 5,2 cm;

- 01 cây kẹp bằng kim loại màu bạc, kích thước 16 x 07 cm;

- 01 chai nhựa màu xanh có dòng chữ 7 Up, kích thước 20 x 06 cm;

- 01 ống thủy tinh, dài 19 cm, đường kính lớn nhất 1,3 cm, nhỏ nhất 0,5 cm;

- 01 ống hút màu trắng có đoạn co giản ở giữa, dài 23 cm, rộng 0,5 cm;

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Thạch Đ nộp 200.000 đồng án phí.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 02 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưởng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; Điều 7 và Điều 9 của Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”./.

Cỡ chữ