vanban.org

Bản án 11/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La Tuyên án 24/01/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lò Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Lò Văn L 26 (hai mươi sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời gian thụ hình tính từ ngày 26/11/2021 là ngày bị bắt tạm giam giữ đối với bị cáo. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn L - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lò Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN B
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2022/HS-ST
Ngày 24-01-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cầm Ngọc Thương

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Văn Sinh

Bà Thào Thị Gia

- Thư ký phiên tòa: Ông Thào A Chống, Thư ký Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Hùng, Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 01 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 11/2021/HSST ngày 06 tháng 01 năm 2022, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2022/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 01 năm 2022, đối với bị cáo:

Họ và tên: Lò Văn L; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 11/3/1993 tại huyện B, tỉnh Sơn La; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: bản B, xã P, huyện B, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hóa: 6/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng, đoàn thể: Không; Con ông: Lò Văn K, sinh năm 1974 và bà Vì Thị B, sinh năm 1976; Bị cáo có vợ Vì Thị T, sinh năm 1994 và có 02 con, con lớn nhất 11 tuổi, con nhỏ nhất 09 tuổi, hiện nay đều cư trú tại bản B, xã P, huyện B, tỉnh Sơn La; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 10/11/2017, Lò Văn L bị TAND huyện B Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 24 tháng; Nhân thân: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giam giữ từ ngày 26/11/2021 đến nay, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do bản thân nghiện hút ma túy, khoảng 15 giờ 00 phút ngày 25/11/2021, Lò Văn L đi bộ một mình từ nhà tại bản B, xã P, huyện B, tỉnh Sơn La xuống bến thuyền bản L, xã P, huyện B đi chuyến thuyền khách của một người đàn ông không quen biết đến bản T, xã C, huyện M tìm mua ma túy mang về sử dụng cho bản thân nghiện hút. Khi đến bến thuyền bản T, L đi bộ theo đường dân sinh bản T gặp một người đàn ông dân tộc Thái không quen biết đang ngồi một mình tại khu rừng ma cạnh đường, L đến hỏi và mua được 01 gói nilon màu hồng, bên trong chứa Heroine với giá 200.000 đồng. Mua bán xong, người đàn ông đi đâu, làm gì L không biết, còn L cất giấu gói Heroine vừa mua được vào cạp quần phía trước đang mặc đi bộ quay về bến thuyền T đón thuyền về nhà. Sau khi đến bến thuyền bản L, xã P, L đi bộ về nhà thì bị tổ công tác Công an xã P kiểm tra, bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Về vật chứng của vụ án gồm: 01 gói nilon màu hồng, bên trong chứa chất bột màu trắng nghi là Heroine.

Ngày 26/11/2021, Cơ quan CSĐT Công an huyện B đã phối hợp với Giám định viên Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, Viện kiểm sát nhân dân huyện B tiến hành mở niêm phong cân tịnh trọng lượng ma túy thu giữ được của Lò Văn L. Kết quả như sau:

Số chất bột màu trắng trong gói nilon màu màu hồng có khối lượng 0,229 gam. Cơ quan CSĐT Công an huyện B niêm phong vật chứng lấy 0,229 gam chất bột màu trắng làm mẫu ký hiệu L.

Ngày 29/11/2021, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La ban hành bản Kết luận giám định số 1797, kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu L là ma túy, loại Heroine, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,229 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,229 gam, loại Heroine”.

Vật chứng còn lại của vụ án: 01 phong bì do Công an huyện B phát hành được niêm phong theo quy định, bên trong gồm: 01 mảnh nilon màu hồng, 01 phong bì đã bóc mở; 01 phong bì của Phòng KTHS Công an tỉnh Sơn La được niêm phong theo quy định, bên trong gồm có: 01 phong bì niêm phong mẫu gửi giám định đã bóc mở, 01 túi non màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng thuộc mẫu gửi giám định ký hiệu L không sử dụng đến trong quá trình giám định, có khối lượng là 0,105 gam.

Tại phiên tòa công khai bị cáo Lò Văn L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với nội dung cáo trạng, phù hợp với các tài liệu chứng cứ, trong hồ sơ vụ án. Tại phiên tòa không phát sinh tình tiết mới.

Tại bản cáo trạng số 02/CT-VKS-BY ngày 06 tháng 01 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện B, truy tố bị cáo Lò Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Lò Văn L mức án từ 24 đến 30 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Đề nghị tịch thu tiêu hủy số vật chứng gồm: 01 phong bì do Công an huyện B phát hành còn nguyên niêm phong theo quy định, bên trong gồm: 01 mảnh nilon màu hồng, 01 phong bì đã bóc mở; 01 phong bì của Phòng KTHS Công an tỉnh Sơn La được niêm phong theo quy định, bên trong gồm có: 01 phong bì niêm phong mẫu gửi giám định đã bóc mở, 01 túi non màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng thuộc mẫu gửi giám định ký hiệu L không sử dụng đến trong quá trình giám định, có khối lượng là 0,105 gam.

Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn L.

Ý kiến của bị cáo Lò Văn L tự bào chữa: Bị cáo nhất trí với bản cáo trạng, luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo nhận thức hành vi của bị cáo là sai, mong hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất, để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo Lò Văn L, có đủ cơ sở để khẳng định:

Ngày 25/11/2021, Lò Văn L có hành vi mua 0,229 gam Heroine với một người đàn ông dân tộc Thái không quen biết tại bản T, xã C, huyện M. L cất số ma túy vào vào cạp quần phía trước đang mặc với mục đích đem ma túy về sử dụng cho bản thân. Trên đường từ bến thuyền bản L, xã P đi bộ về nhà thì L bị tổ công tác Công an xã P kiểm tra, bắt quả tang, thu giữ vật chứng. Tiến hành giám định chất ma túy thu được của bị cáo Lò Văn L kết quả giám định “là ma túy, loại Heroine”.

Xét hành vi trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an của địa phương và ảnh hưởng đến công tác đấu tranh phòng chống tội phạm tại địa phương. Bản thân bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hậu quả của hành vi, nhưng bị cáo đã cố ý thực hiện tội phạm với động cơ mục đích cá nhân.Trên cơ sở đó đủ điều kiện căn cứ kết luận hành vi trên của bị cáo Lò Văn L đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015: “Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:...c) Heroine, Cocaine, Methamphetamin, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng 0,1 gam đến dưới 5 gam...” như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát là có căn cứ, việc xét xử bị cáo là chính xác, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật không oan sai.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội của bị cáo Lò Văn L: Bị cáo đã đi mua và cất giấu trái phép 0,229 gam Heroine để sử dụng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 có mức hình phạt tù từ 1 năm đến 5 năm.

Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Lò Văn L: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng nhưng là đối tượng nghiện ma túy, có tiền sự: Ngày 10/11/2017, Lò Văn L bị TAND huyện B Quyết định áp dụng biện pháp xử lýhành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 24 tháng, bị cáo không lấy đó làm bài học tu dưỡng bản thân mà còn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng sâu, vùng xa, nhận thức và am hiểu pháp luật có phần hạn chế, gia đình thuộc diện hộ nghèo có hoàn cảnh khó khăn. Nên bị cáo Lò Văn L được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Từ sự phân tích trên, Hội đồng xét xử xét cần áp dụng một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của bị cáo. Đồng thời cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian mới đủ điều kiện giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, có ích cho xã hội, đáp ứng yêu cầu đấu tranh, phòng chống tội phạm tại địa phương trong giai đoạn hiện nay.

Bị cáo đang bị tạm giam cần tiếp tục tạm giam theo quy định tại khoản 1, 3 Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Thời gian tạm giam được tính vào thời gian thụ hình.

Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”, do đó,bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo làm nghề trồng trọt, thu nhập thấp, gia đình thuộc diện hộ nghèo của xã PẮc Ngà, huyện B, điều kiện kinh tế khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án: Đối với số vật chứng gồm: 01 phong bì do Công an huyện B phát hành còn nguyên niêm phong theo quy định, bên trong gồm: 01 mảnh nilon màu hồng, 01 phong bì đã bóc mở; 01 phong bì của Phòng KTHS Công an tỉnh Sơn La được niêm phong theo quy định, bên trong gồm có: 01 phong bì niêm phong mẫu gửi giám định đã bóc mở, 01 túi non màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng thuộc mẫu gửi giám định ký hiệu L không sử dụng đến trong quá trình giám định, có khối lượng là 0,105 gam. (số vật chứng trên đã được niêm phong) là công cụ, phương tiện sử dụng vào việc phạm tội, vật chứng không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy. Vì vậy, cần căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 để xử lý.

Đối với nguồn gốc Heroine bị cáo L khai mua của một người đàn ông dân tộc Thái ở bản T, xã C, huyện M, bị cáo không biết tên, tuổi, địa chỉ ở đâu. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã tiến hành điều tra, xác minh nhưng không xác định được nhân thân, lai lịch của người này nên không có căn cứ, cơ sở để xử lý.

Về án phí: Quyết định 612/QĐ-UBDT ngày 16/9/2021 của Ủy ban dân tộc phê duyệt danh sách thôn đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025, thì bị cáo Lò Văn L là người dân tộc thiểu số sinh sống tại bản B, xã P, huyện B, tỉnh Sơn La là bản có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; Gia đình bị cáo Lò Văn L là hộ nghèo thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định tại điểm đ, khoản 1, Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu,miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.tại phiên toà bị cáo xin được miễn án phí. Tòa cần xem xét miễn án phí cho bị cáo.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015:

Tuyên bố bị cáo Lò Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Lò Văn L 26 (hai mươi sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời gian thụ hình tính từ ngày 26/11/2021 là ngày bị bắt tạm giam giữ đối với bị cáo.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

Tuyên tịch thu tiêu hủy số vật chứng gồm: 01 phong bì do Công an huyện Bắc Yên phát hành, bên trong gồm có: 01 mảnh nilon màu hồng, 01 phong bì đã bóc mở; 01 phong bì của Phòng KTHS Công an tỉnh Sơn La được niêm phong theo quy định, bên trong gồm có: 01 phong bì niêm phong mẫu gửi giám định đã bóc mở, 01 túi non màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng thuộc mẫu gửi giám định ký hiệu L không sử dụng đến trong quá trình giám định, có khối lượng là 0,105 gam.

(Chi tiết theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản giữa Công an huyện B và Chi cục Thi hành án dân sự huyện B ngày 06/01/2022).

3. Về Án phí: Áp dụng điểm đ, khoản 1, Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn L.

Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ