vanban.org

Bản án 11/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận Tuyên án 21/01/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều

54; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Văn Nh - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH, TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 11/2022/HS-ST

Ngày: 21/01/2022

HUYỆN BẮC BÌNH Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH, TỈNH BÌNH THUẬN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Thanh Trúc Tuyền Các Hội thẩm nhân dân: 1-Bà nguyễn Thị Phương Dung 2- Ông Bùi Tấn Khoa - Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Hoàng Bảo Vân-Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình tham gia phiên tòa: Ông Tằn Đình Thống- Kiểm sát viên Ngày 21 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 16/2021/TLST-HS ngày 01 tháng 02 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2021/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 4 năm 2021, Quyết định hoãn phiên tòa số 28/2021/HSST-QĐ ngày 27/4/2021, Thông báo số 08/TB-TA ngày 13/5/2021 và Thông báo số 47/TB-TA ngày 31/12/2021 đối với bị cáo: Phan Văn Nh, sinh năm 1982 tại thành phố Hà Nội. Nơi cư trú: Thôn 01, xã SP, huyện PT, thành phố Hà Nội. Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hóa (học vấn): 9/12 Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam Con ông Phan Văn T (Đã chết) và bà Kiều Thị N, sinh năm 1955; Bị cáo có vợ (đã ly hôn) và 03 con; Tiền án: Ngày 17/7/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh sơn La xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng, về tội: Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản. Đã nộp án phí hình sự sơ thẩm vào ngày 04/9/2018, chưa được xóa án tích. Tiền sự: Không. Về nhân thân: Ngày 05/12/2017 bị Hạt kiểm lâm Chương Mỹ, thành phố Hà nội ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi mua, vận chuyển lâm sản

trái pháp luật, với hình thức phạt tiền 6.000.000đồng, đã thi hành xong ngày 08/12/2017 Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa. Bị hại: Bà Trần Thị H, sinh năm 1951 (Đã chết); Người đại diện hợp pháp của bị hại: 1. Anh Nguyễn Văn Ph, sinh năm 1980; (Con) 2. Chị Nguyễn Thị Kim Ph, sinh năm 1975; (Con) 3. Chị Nguyễn Thị Kim H1, sinh năm 1977; (Con) 4. Anh Nguyễn Viết H2, sinh năm 1982; (Con) 5. Anh Nguyễn Chí C, sinh năm 1984; (Con) Cùng địa chỉ: Thôn BL, xã PRT, huyện BB, tỉnh Bình Thuận. -Bị đơn dân sự: Công ty cổ phần B; Địa chỉ: Xóm 1, xã HL, huyện HH, tỉnh Nam Định. Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Trung Tr – Chức vụ: Giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Văn Q, sinh năm 1972; Địa chỉ: xã HL, huyện HH, tỉnh Nam Định. - Người làm chứng: 1. Cháu Nguyễn Thanh Ph, sinh năm 2007; người giám hộ: Ông Nguyễn Văn Ph, sinh năm 1980; Cùng địa chỉ: Thôn BL, xã PRT, huyện BB, tỉnh Bình Thuận. 2. Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1983; Địa chỉ: Đội 1, xã HT, huyện HH, tỉnh Nam Định. 3. Anh Mai Văn Ph, sinh năm 1978; Địa chỉ: Xóm 1, xã HN, huyện HH, tỉnh Nam Định. *Đại diện bị hại, bị đơn dân sự và những người làm chứng vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 6 giờ ngày 29/4/2020, Phan Văn Nh điều khiển xe ô tô khách 18B-021.13 tham gia giao thông trên đường Quốc lộ 1A, theo hướng Phan Rang đi Phan Thiết. Khi gần đến Km 1632 + 150m Quốc lộ 1A thuộc thôn Thôn BL, xã PRT, huyện BB, tỉnh Bình Thuận là đoạn đường cong, mặt đường trải nhựa bằng phẳng, chia thành 03 làn đường, làn đường dành cho xe ô tô rộng 3m50, làn đường dành cho xe ô tô và xe mô tô rộng 3m50, làn đường dành cho xe mô tô và xe thô sơ (làn đường hỗn hợp) rộng 02m, có đặt biển cảnh báo nguy hiểm “giao nhau với đường không ưu tiên” và “nơi đi bộ đường cắt ngang”, có đoạn mở dãi phân cách và kẻ vạch dành cho người đi bộ qua đường. Nh điều khiển xe ô tô khách 18B- 021.13 trên làn đường ô tô với tốc độ khoảng 60 km/h (theo lời khai của Nh) và nhìn thấy bà Trần Thị H (sinh: 1951) ở Thôn BL, xã PRT, huyện BB nắm tay dẫn

cháu Nguyễn Thanh Ph (sinh: 2007) đi bộ từ hướng lề phải qua phần đường bên trái (theo hướng Phan Rang –Phan Thiết) cách đầu xe ô tô của Nh khoảng 20 mét đến 30 mét, khi xe ô tô còn cách bà H khoảng 05 mét đến 07 mét thì bà H bất ngờ quay lại về hướng lề phải, còn Ph giật tay từ ba H ra bung chạy từ làn đường giữa làn đường ô tô đến giữa đầu dải phân cách và ôm đầu cứng dải phân cách. Nh xử lý bằng cách đạp phanh và đánh tay lái sang phải nhưng không kịp, để đầu cảng và ốp nhựa bắt dưới kính chắn gió phía trước bên trái tung vào người bà H trên làn đường hỗn hợp (đường dành cho xe ô tô và mô tô), làm bà H té ngã quăng ra một đoạn đường, bị thương nặng. Sau đó, bà H được phụ xe và người dân đưa đi cấp cứu thì chết. * Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 431/PY-PC09 ngày 25/5/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận, kết luận: Nguyên nhân chết đối với Trần Thị H: - Dấu hiệu chính qua giám định: Đa chấn thương rách da dài 05cm vùng trán trái; trầy xước da nông nhiều vị trí trên cơ thể; nứt xương sọ trán trái - Xuất huyết não. - Nguyên nhân chết: Chấn thương sọ não nặng. Về tang, vật chứng của vụ án: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã giao trả lại xe ô tô tải biển số 18B- 021.13 cho Phạm Văn Q là đại diện theo ủy quyền của Công ty cổ phần B theo quy định. Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 Giấy phép lái xe ô tô hạng E, FC số 310116002774 do Sở giao thông vận tải thành phố Hà Nội cấp ngày 25/12/2019. Về phần dân sự: Trong giai đoạn điều tra các bên đã tự thỏa thuận về phần bồi thường trách nhiệm dân sự. Tại bản Cáo trạng số 16/CT-VKS.HBB ngày 27/01/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình đã truy tố Phan Văn Nh về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tại phiên tòa, - Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị: + Về trách nhiệm hình sự: Không áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Đề nghị xử phạt bị cáo Phan Văn Nh từ 09 (chín) tháng đến 12 (mười hai) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

+ Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trả lại cho bị cáo Phan Văn Nh 01 (một) Giấy phép lái xe ô tô hạng E, FC số 310116002774 do Sở giao thông vận tải thành phố Hà Nội cấp ngày 25/12/2019. - Bị cáo có ý kiến: Thống nhất với lời luận tội của Vị đại diện Viện kiểm sát, bị cáo rất ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình và mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1]. Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện Bắc Bình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. [2]. Những người đại diện bị hại, bị đơn dân sự và những người làm chứng đã được Tòa án triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa, xét thấy những người này đã có đầy đủ lời khai tại cơ quan điều tra và các chứng cứ của vụ án đã rõ ràng. Do vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án là phù hợp với quy định tại Điều 292 và Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự. [3]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Phan Văn Nh đã khai nhận toàn bộ diễn biến của vụ án tai nạn giao thông xảy ra vào lúc 06 giờ 00 phút ngày 29/4/2020, tại Km 1632 + 150m Quốc lộ 1A thuộc thôn Thôn BL, xã PRT, huyện BB, tỉnh bình Thuận do phan Văn Nh điều khiển xe ô tô khách biển số 18B-021.13 tham gia giao thông đi vào đoạn đường cong, có biển cảnh báo nguy hiểm và có người đi bộ qua đường, nhưng Nh không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn, nên khi Nh nhìn thấy bà Trần Thị H đang nắm tay dẫn cháu Nguyễ Thanh Ph đi bộ qua đường từ hướng lề phải qua phần đường bên trái (Theo hướng Phan Rang đi Phan Thiết) thì Nh xử lý không kịp, để đầu cảng và ốp nhực bắt dưới kính chắn gió phía trước bên trái tung vào người bà H trên làn đường hỗn hợp dành cho xe ô tô và xe mô tô, làm bà H té ngã quăng ra một đoạn đường, bị thương nặng và chết trên đường đưa đi cấp cứu. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với sơ đồ hiện trường, biên bản khám nghiệm hiện trường và các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có tại hồ sơ vụ án. Hành vi nêu trên của bị cáo Phan Văn Nh đã vi phạm khoản 1, 4 Điều 11 Luật Giao thông đường bộ và khoản 1, 6 Điều 5 của Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019, đồng thời vi phạm pháp luật hình sự; đủ cơ sở kết luận bị cáo Phan Văn Nh đã phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo Phan Văn Nh về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, theo quy định tại điểm a khoản

1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. [4]. Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Sau khi tai nạn xảy ra, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện cùng với chủ xe thỏa thuận bồi thường số tiền 190.000.000 đồng (Một trăm chín mươi triệu đồng) cho người đại diện hợp pháp của bị hại, gia đình bị hại có đơn xin bãi nại cho bị cáo; tại phiên tòa, đại diện bị hại thiết tha xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Bị cáo có một tiền án: Ngày 17/7/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh sơn La xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng, về tội: Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản. Đã nộp án phí hình sự sơ thẩm vào ngày 04/9/2018, chưa được xóa án tích. Ngoài ra, bị cáo còn có nhân thân xấu, thể hiện: Ngày 05/12/2017 bị Hạt kiểm lâm Chương Mỹ, thành phố Hà nội ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi mua, vận chuyển lâm sản trái pháp luật, với hình thức phạt tiền 6.000.000đồng, đã thi hành xong ngày 08/12/2017. Vì vậy, Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi lượng hình đối với bị cáo. [5]. Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sự an toàn của các phương tiện tham gia giao thông đường bộ, xâm phạm đến tính mạng của người khác, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Ngoài ra, bị cáo còn có một tiền án và nhân thân xấu. Vì vậy, cần thiết phải xử lý nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân có ý thức tuân theo pháp luật. [6]. Về trách nhiệm dân sự: Trong giai đoạn điều tra các bên đã tự thỏa thuận về phần bồi thường trách nhiệm dân sự. Tại phiên tòa, đại diện của bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. [7]. Về tang, vật chứng của vụ án: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã giao trả lại xe ô tô tải biển số 18B-021.13 cho Phạm Văn Q là đại diện theo ủy quyền vủa Công ty cổ phần B theo quy định và không ai có ý kiến gì, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Đối với Giấy phép lái xe ô tô hạng E, FC số 310116002774 do Sở giao thông vận tải thành phố Hà Nội cấp ngày 25/12/2019 thì cần trả lại cho bị cáo theo quy định tại khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. [9]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); Khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; 1. Tuyên bố: Bị cáo Phan Văn Nh phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. 2. Xử phạt: Bị cáo Phan Văn Nh 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. 3. Trả lại cho bị cáo Phan Văn Nh 01 (một) Giấy phép lái xe ô tô hạng E, FC số 310116002774 do Sở giao thông vận tải thành phố Hà Nội cấp ngày 25/12/2019. 4. Về án phí: Bị cáo Phan Văn Nh phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. 5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (21/01/2022). Đại diện của bị hại, bị đơn dân sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ