vanban.org

Bản án 11/2022/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Nghệ An Tuyên án 17/01/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 17/01/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Giao bị cáo cho UBND xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo khoản 1 Đ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cao Văn Th - Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa…"
  • Tòa quyết gì? Giao bị cáo cho UBND xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2022/HS-PT
Ngày 17 - 01 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vi Văn Chắt.

Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Mỹ Hải

Bà Trần Thị Thúy Ngọc.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Văn Hòa - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Hiền – Kiểm sát viên.

Ngày 17/01/2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 259/2021/TLPT-HS ngày 04 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo Cao Văn Th, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 135/2021/HSST ngày 15 tháng 7 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.

Bị cáo có kháng cáo:

Cao Văn Th, sinh ngày 08 tháng 5 năm 1978 tại huyện N, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm 20, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cao Văn N và bà Nguyễn Thị T; có vợ Phan Thị Th và có 03 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 11/12/2020 đến nay. Có mặt.

Ngoài ra trong vụ án có bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 17 giờ 00 phút ngày 20/6/2020, bị cáo Cao Văn Th là lái xe của Công ty Cổ phần vật liệu xây dựng Miền Trung, địa chỉ: số 33, đường Nguyễn Thái Học, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An điều khiển xe ô tô nhãn hiệu DONGFENG, sơn màu trắng, biển kiểm soát 37C - 095.61 (xe ô tô thuộc sở hữu của Công ty Cổ phần vật liệu xây dựng Miền Trung) đi từ thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An đến huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Khi đi đến Km 425 + 700 m đường Quốc lộ 1A, đoạn đi qua thị trấn Diễn Châu, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An; bị cáo quan sát thấy biển báo “Đường người đi bộ sang ngang” nên đã giảm tốc độ xe ô tô và thấy ông Phạm Văn L, sinh năm 1942, trú tại xóm 2, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An đang dắt xe đạp điện đi bộ từ mép đường phía Đông đi sang hướng Tây. Khi ông L đang đi thì bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1950, trú tại xóm 7, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An đã nắm tay vào gác ba ga phía sau xe đạp điện của ông L giữ lại và khuyên ông L không nên qua đường do bà K thấy xe ô tô mà Th điều khiển đang gần đến nhưng ông L vẫn tiếp tục đi sang đường. Lúc này, bị cáo Th vẫn điều khiển xe ô tô đi mà không nhường đường cho ông L nên đã xảy ra va chạm. Hậu quả, ông Phạm Văn L bị thương nặng, phải đi cấp cứu tại Bệnh viện.

Sau khi xảy ra tai nạn, Cơ quan CSĐT Công an huyện Diễn Châu đã thành lập Hội đồng khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông và tiến hành thu thập các tài liệu, chứng cứ; kết quả như sau:

* Kết quả khám nghiệm hiện trường:

Vụ tai nạn giao thông xảy ra vào lúc17 giờ 03 phút ngày 20/6/2020, tại Km 425 + 700 m đường Quốc lộ 1A,thuộc phần đường phía Đông đoạn đi qua thị trấn Diễn Châu, huyện Diễn Châu; mặt đường được rải thảm nhựa, bằng phẳng, rộng 9 m, ở giữa có dải phân cách cố định; tại vị trí nơi xảy ra tai nạn có điểm mở giao thông giữa dải phân cách rộng 15,3 m và có biển báo, vạch kẻ đường dành cho người đi bộ sang ngang. Hiện trường không còn nguyên vẹn, chiếc xe đạp điện đã bị người dân dịch chuyển, thay đổi vị trí so với ban đầu.

* Việc ghi nhận, đánh dấu vị trí phương tiện, dấu vết:

- Xe đạp điện được đánh số 01;

- Vết trượt trên mặt đường có chiều dài 6,1 m được đánh số 02;

- Vết trượt trên mặt đường có chiều dài 5,7 m được đánh số 03;

- Chiếc dép trái bằng xốp, màu đen được đánh số 04;

- Xe ô tô biển kiểm soát 37C - 095.61 được đánh số 05;

- Chiếc dép phải bằng xốp, màu đen được đánh số 06.

* Xác định điểm mốc, điểm chuẩn:

Hội đồng khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông thống nhất lấy tâm cột mốc Km 425 + 700 m được xây cố định trên dải phân cách làm mốc xác định, lấy mép phía Đông của dải phân cách cứng cố định làm chuẩn để tiến hành đo đạc.

- Xe đạp điện nằm trên làn đường dành cho xe cơ giới thứ nhất tính từ dải phân cách trở ra thuộc phần đường phía Đông đường Quốc lộ 1A. Xe nằm ngã về phía bên trái, đầu xe hướng Đông, đuôi xe hướng Tây. Đo từ tâm trục bánh sau đến chuẩn đo đạc là 1,4 m; đo từ tâm trục bánh trước đến chuẩn đo đạc là 2,6 m.

- Trên mặt đường để lại hai vết trượt, vết trượt thứ nhất: Vết trượt không liên tục dài 6,1 m, chiều hướng Nam Bắc. Đo từ điểm đầu vết trượt đến chuẩn đo đạc là 1,7 m; đo từ điểm đầu vết trượt đến mép phía Bắc của phần đường có kẻ vạch dành cho người đi bộ sang ngang là 0,7 m; điểm cuối vết trượt nằm dưới xe đạp điện.

- Vết thứ hai: Vết trượt dài 5,7 m, chiều hướng Nam Bắc. Đo từ điểm đầu vết trượt đến chuẩn đo đạc là 1,2 m; điểm cuối vết trượt nằm ngay dưới xe đạp điện.

- Chiếc dép nằm trên làn đường dành cho xe cơ giới thứ nhất tính từ dải phân cách trở ra thuộc phần đường phía Đông đường Quốc lộ 1A được xác định là dép bên trái của ông Phạm Văn Lợi. Đo từ tâm chiếc dép đến chuẩn đo đạc là 2,6 m; đo từ tâm chiếc dép đến mép phía Bắc của phần đường có kẻ vạch dành cho người đi bộ sang ngang là 0,7 m.

- Chiếc dép nằm trên làn đường dành cho xe cơ giới thứ nhất tính từ dải phân cách trở ra thuộc phần đường phía Đông đường Quốc lộ 1A được xác định là dép bên phải của ông Phạm Văn Lợi. Đo từ tâm chiếc dép đến chuẩn đo đạc là 1,6 m.

- Xe ô tô biển kiểm soát 37C - 095.61 sau tai nạn nằm trên làn đường dành cho xe cơ giới thứ nhất tính từ dải phân cách trở ra thuộc phần đường phía Đông đường Quốc lộ 1A. Đầuxe hướng Bắc, đuôi xe hướng Nam. Đo từ tâm trục bánh trước bên trái xe ô tô đến chuẩn đo đạc là 0,5 m; đo từ tâm trục bánh trước bên trái xe ô tô đến mốc xác định là 1 m; đo từ tâm trục bánh trước bên trái xe ô tô đến tâm trục bánh sau xe đạp điện theo hướng vuông góc là 2,2 m - (Bút lục: 67, 68, 69, 78, 79, 80).

* Kết quả khám nghiệm phương tiện liên quan vụ tai nạn giao thông:

Kết quả khám nghiệm xe ô tô nhãn hiệu DONGFENG, sơn màu trắng, biển

kiểm soát 37C - 095.61:

Mặt ngoài phía trước bên phải ba đờ xốc của xe ô tô (phía dưới cụm đèn chiếu sáng phía trước bên phải) có 01 (Một) vùng móp lõm chiều hướng từ trước ra sau, kích thước (26 x 12) cm. Trên vùng móp lõm này có 02 (Hai) vết trượt xước, mài mòn kim loại, cụ thể:

- Vết thứ nhất có kích thước (17 x 0,4) cm, chiều hướng từ trái qua phải, điểm đầu của dấu vết tính từ phải sang trái cách mặt đất 74 cm, điểm cuối của dấu vết cách mặt đất 70,6 cm.

- Vết thứ hai có kích thước (6,5 x 0,5) cm, chiều hướng từ trái qua phải, điểm đầu của dấu vết tính từ phải sang trái cách mặt đất 67,5 cm, điểm cuối của dấu vết cách mặt đất 67,5 cm.

* Kết quả khám nghiệm xe đạp điện nhãn hiệu BRIDGESTOME, sơn màu xanh:

- Mặt ngoài phía sau bên trái thanh kim loại phía dưới yên xe đạp điện phía sau có 01 (Một) vùng trượt xước, mài mòn kim loại, trên bề mặt có bám dính tạp chất màu trắng của phương tiện liên quan, kích thước (2,6 x 0,4) cm, chiều hướng từ sau ra trước, tâm vùng dấu vết cách mặt đất là 59,5 cm.

- Mặt ngoài bên trái của thanh kim loại thứ hai bên trái (Tính từ trước ra sau), nối trục bánh xe phía sau với yên xe phía sau của xe đạp điện có 01 (Một) vùng trượt xước, mài mòn kim loại, trên bề mặt có bám dính tạp chất màu trắng của phương tiện liên quan, kích thước (1,5 x 0,2) cm, chiều hướng từ sau ra trước, điểm cao nhất cách mặt đất là 54 cm, điểm thấp nhất cách mặt đất là 52 cm.

- Mặt ngoài núm tay nắm bên phải phía trước của xe đạp điện có 01 (Một) vùng trượt xước, mài mòn cao su, kích thước (3 x 2,2) cm, tâm vùng dấu vết cách mặt đất là 101 cm.

- Mặt ngoài bàn đạp chân bên phải của xe đạp điện có 01 (Một) vùng trượt xước, mài mòn nhựa, kích thước (6 x 2,8) cm.

- Mặt ngoài bàn để chân phía sau bên phải của xe đạp điện có 01 (Một) vùng trượt xước, mài mòn nhựa, kích thước (5,5 x 2) cm.

- Gác ba ga yên sau của xe đạp điện bị xô lệch từ trái sang phải so với vị trí ban đầu là 4 cm

* Kết luận giám định pháp y về thương tích:

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 382/TTPY ngày 04/11/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Nghệ An kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể ông Phạm Văn Lợi do thương tích gây nên hiện tại là 94% (Chín mươi tư phần trăm).

* Kết luận giám định về dấu vết trên phương tiện và hiện trường:

Tại Bản kết luận giám định số 203 ngày 10/8/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An xác định:

* Ngay trước thời điểm xảy ra tai nạn, xe ô tô biển kiểm soát 37C - 095.61 di chuyển trên đường Quốc lộ 1A theo hướng từ thành phố Vinh đi Hà Nội (hướng Nam Bắc), xe đạp điện của ông Phạm Văn Lợi di chuyển theo hướng từ phải qua trái so với chiều hướng di chuyển của xe ô tô biển kiểm soát 37C - 095.61 (Hướng Đông Tây).

* Xe ô tô biển kiểm soát 37C - 095.61 có va chạm với xe đạp điện. Vị trí va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện:

- Trên hiện trường: Ở làn đường dành cho xe cơ giới sát với dải phân cách thuộc phần đường phía Đông đường Quốc lộ 1A.

- Trên phương tiện:Trên xeô tô biển kiểm soát 37C - 095.61 là ở mặt ngoài bên phải ba đờ xốc trước (Phía dưới cụm đèn chiếu sáng phía trước bên phải); trên xe đạp điện là ở phần phía sau bên trái xe.

- Không đủ cơ sở xác định góc độ va chạm giữa xe ô tô biển kiểm soát 37C - 095.61 với xe đạp điện.

* Không đủ cơ sở xác định tốc độ di chuyển của xe ô tô biển kiểm soát 37C - 095.61 ngay trước thời điểm xảy ra tai nạn.

* Việc thu thập tài liệu phản ánh tốc độ của phương tiện qua thiết bị giám sát hành trình:

Tại Công văn số 2858/SGTVT-VT ngày 31/8/2020 của Sở Giao thông Vận tải tỉnh Nghệ An có kết quả như sau: Trong thời gian từ 16 giờ 45 phút đến 17 giờ 30 phút ngày 20/6/2020, thiết bị giám sát hành trình trên xe ô tô biển kiểm soát 37C - 095.61 có truyền dữ liệu về hệ thống giám sát hành trình của Tổng cục Đường bộ Việt Nam. Đối chiếu với bảng kê tốc độ do Sở Giao thông Vận tải tỉnh Nghệ An cung cấp, có căn cứ xác định, ngay trước thời điểm 17 giờ 03 phút 30 giây ngày 20/6/2020 khi tốc độ ô tô là 0 km/h, bị can Cao Văn Th điều khiển ô tô biển kiểm soát 37C - 095.61 đi với tốc độ cho phép khi điều khiển ô tô lưu thông trên tuyến đường trong khu vực đông dân cư.

Căn cứ kết quả khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông, Kết luận giám định pháp y về thương tích, Kết luận giám định; lời khai của bị can, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác thu thập trong quá trình điều tra xác định: Nguyên nhân của vụ tai nạn giao thông là do Cao Văn Th điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 37C - 095.61 đã không chấp hành chỉ dẫn của biển báo “Đường người đi bộ sang ngang”, khi thấy ông Phạm Văn Lợi dắt xe đạp điện đi bộ qua đường tại nơi có vạch kẻ đường dành cho người đi bộ thì Cao Văn Th đã không nhường đường nên xảy ra tai nạn giao thông, gây tổn thương 94% (Chín mươi tư phần trăm) cho cơ thể ông Phạm Văn Lợi.

* Việc tạm giữ và xử lý phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông:

Đối với phương tiện, giấy tờ xe liên quan đến vụ tai nạn giao thông gồm: Xe ô tô nhãn hiệu DONGFENG, sơn màu trắng, biển kiểm soát 37C - 095.61; chiếc xe đạp điện nhãn hiệu BRIDGESTOME, sơn màu xanhvà các loại giấy tờ xe liên quan, sau khi tạm giữ để phục vụ quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện Diễn Châu đã tiến hành trả lại chủ sở hữu theo quy định của pháp luật.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 135/2021/HSST ngày 15/7/2021 của Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Nghệ An quyết định: Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Cao Văn Th 09 (Chín) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

Ngoài ra Bản án còn tuyên xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo.

Ngày 22/7/2021, bị cáo Cao Văn Th làm đơn kháng cáo xin được hưởng án treo. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Cao Văn Th giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Cao Văn Th, sửa án sơ thẩm theo hướng giữ nguyên mức hình phạt tù và cho bị cáo hưởng án treo. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Cao Văn Th 09 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; thời gian thử thách 18 tháng, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm. Giao bị cáo về cho chính quyền địa phương giám sát giáo dục.

Bị cáo Cao Văn Th không tranh luận, chỉ xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Cao Văn Th hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội của mình như bản án sơ thẩm nhận xét, đánh giá. Lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ vụ án, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản xem xét dấu vết, lời khai của người làm chứng. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 17 giờ 03 phút ngày 20/6/2020, Cao Văn Th có giấy phép lái xe hợp lệ theo quy định, điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 37C-095.61 theo hướng Nam - Bắc, khi đến Km 425+700m Quốc lộ 1A thuộc địa phận thị trấn Diễn Châu, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An, do không chấp hành chỉ dẫn của biển báo “Đường người đi bộ sang ngang” nên để xảy ra tai nạn giao thông. Hậu quả, ông Phạm Văn Lợi bị thương nặng, với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 94%. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chấp hành chỉ dẫn của hệ thống báo hiệu đường bộ, không nhường đường cho người đi bộ tại nơi có vạch kẻ đường giành cho người đi bộ, vi phạm khoản 1, khoản 4 Điều 11 Luật giao thông đường bộ. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Cao Văn Th về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.

[2] Xét kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Cao Văn Th, Hội đồng xét xử thấy rằng, bị cáo Th phạm tội không có tình tiết tăng nặng; phạm tội lần đầu, do lỗi vô ý, hậu quả xảy ra là ngoài mong muốn của bị cáo; quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; sau khi sự việc xảy ra bị cáo cùng với Công ty cổ phần vật liệu xây dựng miền Trung đã tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại; được đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tại cấp phúc thẩm bị cáo cung cấp thêm các tình tiết giảm nhẹ mới gồm: Bà Nguyễn Thị Tuyết - mẹ bị cáo - được Bộ trưởng Bộ Y tế tặng Huân chương vì sức khỏe nhân dân, ông Cao Văn Nghiên - bố bị cáo - được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba; bản thân bị cáo có thời gian tham gia phục vụ trong quân đội. Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà giao bị cáo cho chính quyền địa phương quản lý, giáo dục cũng đủ nghiêm. Do đó, chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm, giữ nguyên mức hình phạt tù và cho bị cáo được hưởng án treo để thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An là phù hợp.

[3] Về án phí: Kháng cáo của bị cáo Cao Văn Th được chấp nhận nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Cao Văn Th, sửa bản án sơ thẩm, giữ nguyên mức hình phạt tù và cho bị cáo được hưởng án treo.

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Cao Văn Th 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, thời gian thử thách 18 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo cho UBND xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo khoản 1 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Về án phí: căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Cao Văn Th không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ