vanban.org

Bản án 11/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Hà Thị H được ly hôn anh Nguyễn Mạnh T.

Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Mai Ph, sinh ngày: 03/5/2015 cho chị Hà Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con chị H, anh T đều không yêu cầu Tòa án giải quyết. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hà Thị H - Nguyễn Mạnh T"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Hà Thị H được ly hôn anh Nguyễn Mạnh T.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BẮC NINH
TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2022/HNGĐ-ST
Ngày 17 tháng 01 năm 2023
V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thư.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Bùi Quang Hợi

2. Ông Đào Đức Phú

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Vân Thanh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thúy - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 106/2022/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 12 năm 2022 về Tranh chấp Hôn nhân và gia đình. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 01 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Hà Thị H, sinh năm: 1998;

HKTT tại: Khu 2, phường V, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

Bị đơn: Anh Nguyễn Mạnh T, sinh năm: 1990;

HKTT tại: Khu 2, phường V, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.

Hiện đang tạm giam tại: Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 14 tháng 11 năm 2022 và lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Hà Thị H trình bày: Chị và anh Nguyễn Mạnh T tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn vào ngày 14/10/2016 tại UBND phường V, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống chung tại khu 2, phường V, thành phố Bắc Ninh cùng gia đình nhà chồng. Quá trình sinh sống, vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong hôn nhân, vợ chồng hay cãi vã, cuộc sống không hạnh phúc. Từ lúc ly thân đến nay hai vợ chồng không qua lại, quan tâm gì đến nhau. Chị H về lại Phú Thọ ở gia đình nhà ngoại. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể quay về đoàn tụ với nhau được, chị H đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Mạnh T.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung: Nguyễn Mai Ph, sinh ngày: 03/5/2015. Vợ chồng ly hôn chị Hồng đề nghị được nuôi cháu Nguyễn Mai Ph. Chị Hồng không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ và công sức đóng góp: Chị Hồng không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh Nguyễn Mạnh T hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh có đơn xin xét xử vắng mặt và đơn đề nghị Tòa án thành phố Bắc Ninh giải quyết việc ly hôn giữa anh và chị Hà Thị H, cam kết chịu mọi hậu quả pháp lý về việc xử vắng mặt:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Mạnh T đồng ý ly hôn chị Hà Thị H.

Về con chung: Chị Hà Thị H và anh Nguyễn Mạnh T có 01 con chung là: Nguyễn Mai Ph, sinh ngày: 03/5/2015. Vợ chồng ly hôn anh Tú đồng ý để chị Hà Thị H nuôi con chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết về vấn đề cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản: Vợ chồng không có tài sản chung.

Về công nợ: Không có.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh phát biểu ý kiến đánh giá việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn là đúng trình tự theo quy định của pháp luật, đối với nguyên đơn, bị đơn đã có đơn xin xét xử vắng mặt.

Về nội dung đại diện Viện kiểm sát đề nghị: Căn cứ vào các điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.

- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Hà Thị H.

- Về con chung: Chị Hà Thị H và anh Nguyễn Mạnh T có 01 con chung là: Nguyễn Mai Ph, sinh ngày: 03/5/2015. Chị H, anh T đều đồng ý giao cháu Nguyễn Mai Ph cho chị Hồng tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc. Vì vậy, cần giao cháu Ph cho chị H.

- Về tài sản, công nợ: Không có nên không đề cập giải quyết.

- Về án phí: Chị Hà Thị H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ và các chứng cứ được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Căn cứ vào đơn khởi kiện, tài liệu kèm theo đơn khởi kiện của Hà Thị H và các tài liệu, chứng cứ thu thập trong hồ sơ vụ án. Xác định đây là quan hệ tranh chấp Hôn nhân và gia đình “Xin ly hôn”. Bị đơn là anh Nguyễn Mạnh T có hộ khẩu tại: Khu 2, phường V, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự.

Trong quá trình giải quyết vụ án, chị Hà Thị H và anh Nguyễn Mạnh T đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và hai bên vẫn giữ nguyên quan điểm của mình. Vì vậy, căn cứ điểm a khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị Hà Thị H và anh Nguyễn Mạnh T tại phiên tòa.

Cuộc hôn nhân giữa chị Hà Thị H và anh Nguyễn Mạnh T là cuộc hôn nhân hợp pháp, xây dựng trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện. Quá trình vợ chồng chung sống do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, vợ chồng không còn tình cảm, không quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Chị H, anh T đã sống ly thân từ năm 2018 đến nay.

Xét tình cảm vợ chồng giữa chị H và anh T mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Vợ chồng sống ly thân trong thời gian dài, ngoài ra chị H xin ly hôn anh T cũng đồng ý. Do vậy chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Hà Thị H đối với anh Nguyễn Mạnh T.

Về vấn đề con chung: Chị Hà Thị H và anh Nguyễn Mạnh T có 01 con chung là Nguyễn Mai Ph, sinh ngày: 03/5/2015. Cháu Nguyễn Mai Ph có nguyện vọng được ở với mẹ là chị Hà Thị H. Chị H cũng có nguyện vọng được tiếp tục, nuôi dưỡng chăm sóc giáo dục con là cháu Nguyễn Mai Ph. Vì vậy, cần giao cháu Ph cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc đến khi cháu đủ 18 tuổi. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con chị H, anh T đều không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản: Không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Về công nợ: Không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị Hà Thị H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.

Căn cứ Điều 147, Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228, 235, 264, 266 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Toà án;

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Hà Thị H được ly hôn anh Nguyễn Mạnh T.

2. Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Mai Ph, sinh ngày: 03/5/2015 cho chị Hà Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con chị H, anh T đều không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Về tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về công nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

5. Về án phí dân sự: Chị Hà Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm (Xác nhận chị Hà Thị H đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí tại biên lai số AA/2021/0001597 ngày 08/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Ninh). Chị Hồng đã nộp đủ tiền án phí.

Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết kết quả bản án.

Cỡ chữ