vanban.org

Bản án 11/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ vợ chồng: Cho chị Lâm Thị A được ly hôn anh Nguyễn Văn B.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Bảo F1 – Sinh ngày 11/01/2012 cho chị Lâm Thị A trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục. Tạm hoãn việc cấp dưỡng cho anh Nguyễn Văn B vì chị A không yêu cầu. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ vợ chồng: Cho chị Lâm Thị A được ly hôn anh Nguyễn Văn B.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN BỆN VÕ NHAI
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 22/4/2022
V/v Ly hôn.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN BỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Kim Tuấn.

- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Hoàng Thị Thúy.

2. Bà Nguyễn Thị Hạnh.

Thƣ ký phiên tòa: Ông Trịnh Văn Hoàng - Thư ký Tòa án nhân dân Bện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Bện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Năm - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 04 năm 2022, tại Hội trường Tòa án nhân dân Bện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 119/2021/TLST-HNGĐ ngày 14/10/2021 về việc “Ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 3 năm 2022, giữa các đương sự:

*Nguyên đơn: Chị Lâm Thị A – Sinh năm 1988.

Địa chỉ: Xóm B1, xã Bình F1, V, tỉnh Thái Nguyên.

Nay là Xóm BT, xã Bình F1, V, tỉnh Thái Nguyên.

Dân tộc: Nùng; Văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Nhân viên. (Có mặt)

*Bị đơn: Anh Nguyễn Văn B – Sinh năm 1987.

Địa chỉ: Xóm B1, xã Bình F1, V, tỉnh Thái Nguyên.

Nay là Xóm BT, xã Bình F1, V, tỉnh Thái Nguyên.

Dân tộc: Kinh. (Vắng mặt lần 2 – không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa nguyên đơn chị Lâm Thị A trình bày:

Chị khởi kiện anh Nguyễn Văn B – Địa chỉ: Xóm Bậu, xã Bình F1, Bện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên, lý do xin ly hôn.

Chị và anh Nguyễn Văn B kết hôn và đăng ký kết hôn với nhau năm 2010 tại UBND xã Bình F1, V, Thái Nguyên.

Quá trình chung sống anh chị có 01 con chung là cháu Nguyễn Bảo F1, sinh ngày 11/01/2012.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh chị không có nợ chung, tài sản chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nguyên nhân xin ly hôn: Do quá trình chung sống, thời gian đầu hạnh phúc, sau đó quan hệ vợ chồng dạn nứt nảy sinh nhiều mâu thuẫn bất đồng quan điểm, hai vợ chồng không có tiếng nói chung, vợ chồng sống ly thân từ năm 2016, đến nay không ai quan tâm đến ai nên chị xin ly hôn anh B.

Nay chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn anh B.

Về con chung: Chị có nguyện vọng được nuôi cháu là cháu Nguyễn Bảo F1, sinh ngày 11/01/2012, nếu được nuôi con chị không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn anh Nguyễn Văn B. Sau khi Toà án thụ lý, Toà án đã tiến hành triệu tập, thông báo nhiều lần để anh B đến Toà án làm các thủ tục tố tụng theo quy định nhưng anh B trốn tránh không đến, quá trình làm việc tại gia đình anh B, gia đình anh B cung cấp thông tin về ý kiến của anh B đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định.

Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn có mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt. Nên căn cứ vào Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Bện Võ Nhai phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi Toà án thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án là đúng quy định của pháp luật; đối với các đương sự nguyên đơn chấp hành đúng, bị đơn chưa chấp hành đúng quyền, nghĩa vụ của đương sự trong vụ án dân sự và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án, cụ thể:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lâm Thị A, yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn đối với anh Nguyễn Văn B

- Về quan hệ vợ chồng: Cho chị Lâm Thị A được ly hôn với anh Nguyễn Văn B.

- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Bảo F1, sinh ngày 11/01/2012 cho chị Lâm Thị A trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục. Tạm hoãn việc cấp dưỡng cho anh Nguyễn Văn B vì chị A không yêu cầu.

Anh B và chị A có các quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết vì đương sự không có và không yêu cầu.

- Về án phí: Chị A phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật giải quyết: Đây là vụ án hôn nhân gia đình về việc Ly hôn giữa chị Lâm Thị A và anh Nguyễn Văn B.

Về tư cách chủ thể: Chị Lâm Thị A khởi kiện xin ly hôn anh Nguyễn Văn B nên chị Lâm Thị A là nguyên đơn, anh Nguyễn Văn B là bị đơn trong vụ án.

Về yêu cầu xin ly hôn của chị A: Cuộc hôn nhân giữa chị A và anh B là hoàn toàn tự nguyện và hợp pháp. Bởi lẽ, anh B và chị A lấy nhau có được tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND xã Bình F1, V, tỉnh Thái Nguyên. Về nguyên nhân ly hôn: Theo chị A do quá trình chung sống, thời gian đầu hạnh phúc, sau đó quan hệ vợ chồng dạn nứt nảy sinh nhiều mâu thuẫn bất đồng quan điểm, hai vợ chồng không có tiếng nói chung, vợ chồng sống ly thân từ năm 2016, đến nay không ai quan tâm đến ai nên chị xin ly hôn anh B.

Căn cứ kết quả xác minh của Tòa án nhân dân Bện Võ Nhai tại địa phương xác định vợ chồng anh B, chị A có xảy ra mâu thuẫn và không chung sống từ năm 2017 đến nay.

Xét cuộc hôn nhân giữa anh B và chị A đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài. Do vậy, cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lâm Thị A.

Về con chung: Chị A và anh B có 01 con chung là cháu Nguyễn Bảo F1, sinh ngày 11/01/2012.

Chị A có nguyện vọng được nuôi cháu Nguyễn Bảo F1, nếu được nuôi con chị không yêu cầu anh B phải cấp dưỡng. Căn cứ biên bản lấy lời khai của cháu Nguyễn Bảo F1, sinh ngày 11/01/2012, cháu có nguyện vọng được ở với mẹ là Lâm Thị A khi bố mẹ cháu ly hôn.

Do vậy, để đảm bảo quyền lợi cho cháu F1 cần giao cháu Nguyễn Bảo F1, sinh ngày 11/01/2012 cho chị Lâm Thị A trực tiếp trông nom, chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục.

Về việc cấp dưỡng nuôi con: Tạm hoãn việc cấp dưỡng cho anh Nguyễn Văn B vì chị A không yêu cầu.

Chị A và anh B có các quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định.

Về tài sản chung và nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết vì đương sự có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 BLTTDS; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, chị Lâm Thị A phải chịu 300.000 đồng án phí theo quy định.

Xét ý kiến về việc giải quyết vụ án của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Bện Võ Nhai tại phiên tòa là phù hợp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 28; 35; 39; 147; 227; 228 và 235 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 56; 58; 81; 82; 83 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ vợ chồng: Cho chị Lâm Thị A được ly hôn anh Nguyễn Văn B.

2. Về con chung:

Giao cháu Nguyễn Bảo F1 – Sinh ngày 11/01/2012 cho chị Lâm Thị A trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục. Tạm hoãn việc cấp dưỡng cho anh Nguyễn Văn B vì chị A không yêu cầu.

Anh B có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

Chị A cũng như các thành viên trong gia đình không được cản trở anh B thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu F1.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Chị Lâm Thị A phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị A đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự Bện Võ Nhai theo biên lai số 0004813 ngày 14 tháng 10 năm 2021.

(Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.)

Án xử công khai có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn. Báo cho nguyên đơn biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ./.

Cỡ chữ