- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Hồng S tranh chấp "Ly hôn, nuôi con" với Nguyễn Văn C"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
- Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN TÂN HƯNG TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 11/2022/HNGĐ-ST Ngày: 10-5-2022 V/v tranh chấp “Ly hôn và nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HƯNG – TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lê Chí Dũng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Đặng Thị Thu Vui.
2. Ông Phạm Ngọc Chánh
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lệ Thu, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Hưng, tỉnh Long An;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Hưng, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Huyền – Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Hưng, tỉnh Long An tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 10/2021/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 12 năm 2021 về tranh chấp “Ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 3 năm 2022, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Hồng S, sinh năm: 1990 (có mặt).
Địa chỉ: Ấp 1, xã L, huyện B, tỉnh L.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm: 1990 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp 3, xã B, huyện H, tỉnh A.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 23 tháng 11 năm 2021 và tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Hồng S trình bày:
1. Về hôn nhân: Sau thời gian tìm hiểu bà và ông Nguyễn Văn C đã tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện B, tỉnh L vào ngày 06/9/2010. Thời gian đầu chung sống với nhau hạnh phúc, đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn.
Nguyên nhân mâu thuẫn do quan điểm sống không đồng thuận, ông C không lo làm ăn và không quan tâm gia đình, vợ chồng bà đã sống ly thân từ tháng 6 năm 2021 cho đến nay. Kể từ khi vợ chồng bà sống ly thân thì bà về xã L, huyện B, tỉnh L sinh sống, còn ông C sống tại ấp 2, xã B. Vào dịp lễ, Tết thì bà có dẫn con về thăm ông bà nội, còn ông C không đến thăm con chung.
Bà S thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài nên bà S yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với ông C.
2. Về con chung: Trong quá trình chung sống vợ chồng có hai con chung tên Nguyễn Hồng Đ, sinh ngày 07/7/2011, giới tính: nữ và Nguyễn Ngọc Thiên T, sinh ngày: 03/4/2018, giới tính: Nữ. Kể từ khi cuộc sống vợ chồng mâu thuẫn, sống ly thân thì bà là người trực tiếp nuôi con. Nay bà S yêu cầu được quyền tiếp tục nuôi dưỡng và chăm sóc hai con chung, không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về nợ chung: Vợ chồng bà S không có nợ người khác hoặc người khác nợ vợ chồng.
Tòa án đã tiến hành mở phiên hòa giải giữa các đương sự nhưng không tiến hành hòa giải được.
Các bên đương sự xác định đã cung cấp đầy đủ chứng cứ cho Tòa án, không còn cung cấp thêm chứng cứ nào khác.
Bà Nguyễn Hồng S khởi kiện ông Nguyễn Văn C về việc tranh chấp “Ly hôn và nuôi con”, do Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ nên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Hưng tham gia phiên tòa. Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán là đúng theo quy định; Hội đồng xét xử đều đúng quy định của pháp luật; việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn đúng quy định của pháp luật, bị đơn chưa chấp hành đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án:
- Về hôn nhân: Vợ chồng bà S và ông C có đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nên đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận. Nay bà S nhận thấy mối quan hệ giữa bà và ông C có rất nhiều mâu thuẫn, bất đồng không thể giải quyết được, đời sống hôn nhân không còn hạnh phúc. Hơn nữa, bà S và ông C đã sống ly thân từ tháng 6/2021 đến nay không có khả năng đoàn tụ nên yêu cầu của bà S về việc ly hôn với ông C là có căn cứ chấp nhận theo khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình.
- Về con chung: Bà S yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung tên Nguyễn Hồng Đ, sinh ngày: 07/7/2011, giới tính: nữ và Nguyễn Ngọc Thiên T, sinh ngày: 03/4/2018, giới tính: nữ. Xét thấy, từ khi bà S và ông C ly thân bà S là người trực tiếp nuôi 02 con chung, bản thân cháu Đ có nguyện vọng được ở với mẹ để mẹ chăm sóc, nuôi dưỡng. Do đó, yêu cầu của bà S là phù hợp theo khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 nên có căn cứ chấp nhận.
- Về cấp dưỡng, tài sản chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên không đề cập đến.
- Về nợ chung: Không có nên không đề cập đến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Bà Nguyễn Hồng S khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Văn Cvà nuôi con chung, theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự thì quan hệ tranh chấp trong vụ kiện này là tranh chấp “Ly hôn và nuôi con” nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Ông Nguyễn Văn C trú tại ấp 3, xã B, huyện H, tỉnh A. Do đó, căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Hưng, tỉnh Long An.
Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông Nguyễn Văn C không đến, Tòa án lập biên bản không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự và đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.
Khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án đã tống đạt hợp lệ cho ông C nhưng ông C vẫn vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt ông C theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa bà S với ông C là hợp pháp. Quá trình chung sống do hai bên bất đồng quan điểm sống nên dẫn đến mâu thuẫn, mất lòng tin với nhau, vợ chồng bà S đã sống ly thân từ tháng 6 năm 2021 cho đến nay, việc sống ly thân có chính quyền địa phương xác nhận. Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa bà S với ông C đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên bà S yêu cầu được ly hôn là có căn cứ theo các Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Bà Son và ông C có hai con chung tên Nguyễn Hồng Đ, sinh ngày 07/7/2011, giới tính: nữ và Nguyễn Ngọc Thiên T, sinh ngày: 03/4/2018, giới tính: Nữ. Bà S có nguyện vọng yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc hai con chung.
Xét thấy: Bà S đang trực tiếp nuôi dưỡng cháu Hồng Đ, cháu Thiên T đảm bảo tốt về mọi mặt, bà Scó thu nhập ổn định và cháu Hồng Đ có nguyện vọng sống với mẹ nên giao cho bà S được quyền tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Hồng Đ và cháu Thiên T (cháu Đ, cháu T đang sống chung với bà S) là phù hợp các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về cấp dưỡng và tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập đến.
Về nợ chung: không có nên không đề cập đến.
Về án phí: Áp dụng Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bà Nguyễn Hồng S phải chịu án phí Hôn nhân sơ thẩm;
Ông Nguyễn Văn C không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều 28, 35, 39, 147, 235 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Bà Nguyễn Hồng S được ly hôn với ông Nguyễn Văn C.
2. Về con chung: Bà Nguyễn Hồng S được quyền tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc hai con chung tên Nguyễn Hồng Đ, sinh ngày 07/7/2011, giới tính: nữ và Nguyễn Ngọc Thiên T, sinh ngày: 03/4/2018, giới tính: Nữ.
Ông Nguyễn Văn C không trực tiếp nuôi con nhưng được quyền đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con, không ai được quyền cản trở ông C thực hiện quyền này.
Vì lợi ích của con, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
3. Về cấp dưỡng và tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập đến.
5. Về án phí:
Bà Nguyễn Hồng S phải chịu án phí án hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0003066 ngày 22 tháng 12 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Hưng, tỉnh Long An. Bà S đã nộp đủ án phí hôn nhân sơ thẩm.
Ông Nguyễn Văn C không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận - TAND tỉnh; - VKSND huyện/tỉnh; - Chi cục THADS; - UBND xã L, huyện B, tỉnh L; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ; - Lưu án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm Phán - Chủ toạ phiên toà (Đã ký) Lê Chí Dũng |