- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn: Trần văn H; Bị đơn: Lường Thị L"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN Bản án số: 11/2022/HNGD-ST Ngày 19 tháng 7 năm 2022 “V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MA, TỈNH ĐIỆN BIÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông: Lường Văn Hưởng
2. Ông: Lò Văn Ngắm
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hồng Ngân, Thư ký Tòa án nhân dân huyện MA, tỉnh Điện Biên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện MA tham gia phiên tòa: Ông Ngô Hoài Ngân – Kiểm sát viên
Ngày 19 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện MA, tỉnh Điện Biên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 52/2022/TLST-HN&GĐ ngày 01 tháng 3 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 6 năm 2022; Quyết định hoãn phiên tòa số: 08/2022/QĐST-HNGĐ, ngày 29 tháng 6 năm 2022 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Trần Văn H; sinh năm: 1993.
Nơi cư trú: Tổ dân ph, thị trấn MA, huyện MA, tỉnh Điện Biên (Có mặt).
Bị đơn: Chị Lường Thị L; sinh năm: 1996.
Nơi cư trú: Bản MĐ, xã AC, huyện MA, tỉnh Điện Biên. (Vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn Xin ly hôn đề ngày 22/02/2022; tại bản tự khai của anh H ngày 10/3/2022 và tại phiên tòa nguyên đơn anh Trần Văn H trình bày:
* Về hôn nhân: Tôi (H) và chị Lường Thị L có đăng ký kết ngày 05/4/2019 tại UBND thị trấn MA, huyện MA, tỉnh Điện Biên trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện không ai bị ép buộc. Trong thời gian đầu chúng tôi chung sống hạnh phúc được khoảng 03 tháng. Sau đó chị L bắt đầu lười biếng không biết làm ăn chỉ mải chơi bời, không quan tâm đến gia đình. Nên tôi và chị L không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống không tìm được tiếng nói chung. Các mâu thuẫn ngày càng gay gắt dù đã được gia đình hai bên nội, ngoại hòa giải nhiều lần nhưng mâu thuẫn không thuyên giảm. Tôi nhận thấy tôi và chị L đã không còn yêu thương nhau, không thực hiện nghĩa vụ với nhau, đã được gia đình nhắc nhở hòa giải không thành. Chị L đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ từ thàng 8/2020 và chúng tôi đã ly thân từ đó đến nay. Nay tôi xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, tôi đề nghị Tòa án nhân dân huyện MA giải quyết cho tôi được ly hôn với chị Lường Thị L.
* Về con chung: Trong quá trình chung sống tôi và chị L có 01 người con chung: Cháu Trần Gia H, sinh ngày 20/11/2019. Nguyện vọng của tôi là sau khi ly hôn tôi nhận trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu H cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con chung.
* Về tài sản chung, tài sản riêng, nợ chung phải trả, nợ chung thu về: Tôi và chị L không có.
Tại phiên tòa ngày hôm nay Anh H vẫn giữ nguyên yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị Lường Thị L; anh H xin được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con chung; về tài sản chung, nợ chung phải trả, nợ chung lấy về không có như nội dung đơn khởi kiện và bản tự khai anh đã trình bày.
* Bị đơn: Chị Lường Thị L mặc dù được Tòa án triệu tập nhiều lần và đúng quy định của pháp luật nhưng chị L vẫn vắng mặt.
* Trong quá trình giải quyết vụ án: Tòa án đã tiến hành xác minh nơi đăng ký hộ khẩu thường trú của chị Lường Thị L; Biên bản xác minh nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng và điều kiện kinh tế của anh Trần Văn H.
Trong quá trình thụ lý giải quyết anh H có đơn yêu cầu Tòa án không tiến hành hòa giải.
Quan điểm của đại diện VKSND huyện MA: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ giai đoạn thụ lý đến giai đoạn chuẩn bị xét xử vụ án, xác định quan hệ pháp luật, tư cách người tham gia tố tụng, thời hạn chuẩn bị xét xử, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, thời hạn chuyển hồ sơ cho VKS nghiên cứu, tống đạt các văn bản tố tụng.
Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng thủ tục tố tụng, sự có mặt của các thành viên Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa, thủ tục phiên tòa theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc chấp hành của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa theo quy định tại các Điều 227, 234 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa ngày hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện MA, tỉnh Điện Biên đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về hôn nhân: Tuyên bố anh Trần Văn H được ly hôn chị Lường Thị L.
- Con chung: Giao cháu Trần Gia H, sinh ngày 20/11/2019 cho anh H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu đủ 18 tuổi và có khả năng lao động. Anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết về việc cấp dưỡng nuôi con chung.
- Tài sản chung, nợ phải trả, nợ lấy về: Không có.
- Án phí: Áp dụng khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Anh H phải chịu 300.000đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm không có giá ngạch.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của đương sự, ý kiến của đại diện VKSND huyện MA. Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện MA, tỉnh Điện Biên theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Ngày 01/3/2022, Tòa án nhân dân huyện MA, tỉnh Điện Biên thụ lý vụ án về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Tòa án ra Thông báo thụ lý vụ án tiến hành tống đạt cho bị đơn là chị Lường Thị L, chị L vắng nhà, Tòa án đã tiến hành niêm yết theo quy định của pháp luật. Hết thời hạn 15 ngày Bị đơn không có ý kiến gì.
Tòa án ra thông báo về Phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, đã tiến hành tống đạt và niêm yết công khai theo quy định của pháp luật nhưng bị đơn không có mặt tại phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.
Ngày 12/5/2022 anh Trần Văn H có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải. Căn cứ khoản 4 điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án không tiến hành hòa giải được lần 2.
Tòa án ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử, tống đạt và niêm yết Quyết định theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa ngày 29/6//2022, Nguyên đơn là anh Trần Văn H có mặt, bị đơn là chị Lường Thị L vắng mặt không có lý do lần thứ nhất, căn cứ khoản 1 điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa và ấn định thời gian xét xử lại vào ngày 19/7/2022.
Tại phiên tòa ngày hôm nay, Nguyên đơn là anh Trần Văn H (có mặt); Bị đơn là chị Lường Thị L vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định đưa vụ án ra xét xử vắng mặt chị L.
Nội dung vụ án:
* Về hôn nhân: Theo đơn Xin ly hôn đề ngày 22/02/2022; tại bản tự khai ngày 10/3/2022 của nguyên đơn là anh Trần Văn H; lời trình bày của anh H tại phiên tòa và các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ. Hội đồng xét xử thấy: anh H và chị L lấy nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn vào ngày 05/4/2019 tại UBND thị trấn MA, huyện MA, tỉnh Điện Biên trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện không ai bị ép buộc. Trong thời gian đầu anh H, chị L chung sống hạnh phúc được khoảng 03 tháng. Sau đó phát sinh mâu thuẫn không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống không tìm được tiếng nói chung. Do chị L chỉ mải chơi bời, không quan tâm đến gia đình, không yêu thương chồng con, không tu trí làm ăn, không phát triển kinh tế gia đình, anh và gia đình hai bên nội ngoại đã khuyên bảo nhưng chị L không nghe, do đó anh chị luôn mâu thẫu với nhau trong cuộc sống vợ chồng. Chị L đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ từ tháng 8/2020, anh H và chị L đã sống ly thân. Xét thấy, vợ chồng anh chị đã sống ly thân, không còn thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, ai biết bổn phận của người đó, điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa anh H và chị L đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 điều 51 và khoản 1 điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của anh Trần Văn H. Tuyên xử cho anh Trần Văn H được ly hôn với chị Lường Thị L.
* Về con chung: Anh Trần Văn H và chị Lường Thị L có 01 người con chung: cháu Trần Gia H, sinh ngày 20/11/2019.
Anh H có nguyện vọng sau khi ly hôn, anh được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu H đến khi cháu đủ 18 tuổi.
Hội đồng xét xử xét thấy hiện nay cháu Trần Gia H, sinh ngày 20/11/2019 đang sống cùng với anh H, bà nội, bà ngoại từ khi vợ chồng anh H, chị L sống ly thân. Theo quy định tại khoản 3 điều 81 Luật hôn nhân gia đình con dưới 36 tháng tuổi được giao trực tiếp cho mẹ nuôi dưỡng nhưng chị L thường xuyên vắng nhà, không đảm bảo về trực tiếp chăm sóc. Nên để không gây xáo trộn về tâm lý đồng thời đảm bảo cho sự phát triển về tinh thần cũng như quyền lợi về mọi mặt của cháu H cần tiếp tục giao cháu cho anh H trực tiếp chăm nom, chăm sóc, giáo dục cháu H đến khi cháu đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.
Anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung, nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét.
Vì vậy, Hội đồng xét xử cần chấp nhận nguyện vọng của Anh H về việc giao nuôi con chung cũng như vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung.
* Tài sản chung; tài sản riêng; nợ phải trả; nợ thu về: Không có nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét.
Về án phí: Áp dụng khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Anh H phải chịu 300.000đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm không có giá ngạch.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của BLTTDS 2015.
- Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình 2014.
- Điểm a khoản 5 điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Trần Văn H: Anh Trần Văn H được ly hôn chị Lường Thị L.
2. Về con chung: Giao cháu Trần Gia H, sinh ngày 20/11/2019 cho anh H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.
Anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung.
Chị L có quyền đi lại, thăm nom con chung, không ai được cản trở quyền này. Vì lợi ích của con chung, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên; người thân thích; Cơ quan quản lý Nhà nước về gia đình; Cơ quan quản lý Nhà nước về trẻ em; Hội liên hiệp phụ nữ thì Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con chung.
3. Về tài sản chung, tài sản riêng, nợ chung phải trả, nợ chung lấy về: Không có.
4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Anh H phải chịu 300.000đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm không có giá ngạch. Được khấu trừ theo biên lai thu tạm ứng án phí theo biên lai số: 0009267 ngày 01/3/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện MA, tỉnh Điện Biên anh H đã nộp đủ.
5. Án xử công khai sơ thẩm, kết thúc cùng ngày. Anh Trần Văn H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 19/7/2022). Chị Lường Thị L vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.
Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Điện Biên; - VKSND huyện MA; - Chi cục THADS huyện MA; - UBND thị trấn MA, h.MA - Đương sự; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Vân |