vanban.org

Bản án 11/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đào Thị Hằng N về việc ly hôn ông Lê Trọng L Về quan hệ hôn nhân: Bà Đào Thị Hằng N được ly hôn ông Lê Trọng L. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án.
  • Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CÁT TIÊN
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2022/HNGĐ-ST
Ngày 04-7-2022
“V/v Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁT TIÊN, TỈNH LÂM ĐỒNG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lê Thị Hiền

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Bùi Thị Thanh N;

2. Ông Nguyễn Văn Diện.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hải – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên toà: Ông Phan Văn Sinh - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 18/2022/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 02 năm 2022 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 5 năm 2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Đào Thị Hằng N - Sinh năm 1989

Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Thôn T, xã G, huyện C, tỉnh Lâm Đồng.

Chỗ ở hiện nay: Thôn 2, xã H, huyện C, tỉnh Lâm Đồng.

Bị đơn: Ông Lê Trọng L – Sinh năm 1987

Nơi cư trú: Thôn T, xã G, huyện C, tỉnh Lâm Đồng.

(Bà N có mặt; ông L vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Đào Thị Hằng N trình bày: Bà N và ông L đăng ký kết hôn với nhau năm 2010, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã G, huyện C, tỉnh Lâm Đồng. Hôn nhân do hai bên tự nguyện không bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau tại xã G, huyện C, tỉnh Lâm Đồng. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc được 06 năm nhưng đến năm 2017 thường xuyên phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do ông L không lo làm ăn, thường xuyên đánh bạc dẫn đến nợ nần, ông L hay nghen tuông, dùng bạo lực với bà cuộc sống vợ chồng hay xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng ông, bà đã ly năm 2019 đến nay, bà N xác định tình cảm vợ chồng không còn nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà N và ông L được ly hôn.

Về con chung: Bà N trình bày, bà và ông L có 01 con chung tên Lê Đào Quỳnh N, sinh ngày 27/9/2011 hiện nay con chung đang ở với ông L . Khi ly hôn bà N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có.

Về nợ chung: Không có.

Tại biên bản xác minh ngày 19/5/2022 của Tòa án nhân dân huyện Cát Tiên tại Công an xã G thể hiện: Ông Lê Trọng L có hộ khẩu thường trú tại thôn T, xã G, huyện C, tỉnh Lâm Đồng, hiện nay ông L có mặt tại địa phương. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho ông L nhưng ông từ chối nhận và Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng về giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn đều tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn vi phạm quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 28, 35, 36, 39, 147, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51, 53, 54, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho bà N được ly hôn ông L; Giao con chung tên Lê Đào Quỳnh N, sinh ngày 27/9/2011 cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng; về cấp dưỡng nuôi con bà N không yêu cầu nên không xem xét; bà N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; Tòa án nhận định:

Về quan hệ tranh chấp: Xuất phát từ việc vợ chồng mâu thuẫn với nhau trong cuộc sống hôn nhân nên bà Đào Thị Hằng N xin ly hôn với ông Lê Trọng L; vì vậy đủ cơ sở xác định quan hệ tranh chấp là “Ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự; căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng Dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng.

Về tố tụng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ đối với bị đơn là ông Lê Trọng L để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như để tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập của Tòa án đến lần thứ hai nhưng ông Lê Trọng L vẫn không có văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và vẫn cố tình vắng mặt, không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt ông Lê Trọng L theo quy định tại khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về hôn nhân: Bà N và ông L tự nguyện sống chung và kết hôn, được Ủy ban nhân dân xã G, huyện C đăng ký kết hôn năm 2010, đây là hôn nhân hợp pháp. Bà N xin ly hôn vì lý do cuộc sống vợ chồng hạnh phúc được 06 năm nhưng đến năm 2017 thường xuyên phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do ông L không lo làm ăn, thường xuyên đánh bạc dẫn đến nợ nần, ông L hay nghen tuông, dùng bạo L với bà, cuộc sống vợ chồng hay xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng ông, bà đã ly năm 2019 đến nay, bà N xác định tình cảm vợ chồng không còn. Hội đồng xét xử nhận thấy mâu thuẫn giữa bà N và ông L đã xảy ra, các bên không có biện pháp để cải thiện tình cảm vợ chồng, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau như vậy mục đích hôn nhân giữa bà N và ông L không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu của bà N, cho bà N và ông L được ly hôn là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con: Bà N và ông L có 1 con chung tên Lê Đào Quỳnh N, sinh ngày 27/9/2011 hiện nay con chung đang ở với ông L. Khi ly hôn bà N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, cháu Như có nguyện vọng được ở với mẹ khi bố mẹ ly hôn. Bà N không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy rằng để đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con chung cần giao con chung cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về tài sản chung: Không có tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về nợ chung: Không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bà N phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào các Điều 28; 35; 39, 147, 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ vào các Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đào Thị Hằng N về việc ly hôn ông Lê Trọng L

Về quan hệ hôn nhân: Bà Đào Thị Hằng N được ly hôn ông Lê Trọng L.

Về con chung: Giao con chung tên Lê Đào Quỳnh Như, sinh ngày 27/9/2011 cho bà Đào Thị Hằng N trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi theo quy định của pháp luật.

Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn được thực hiện theo qui định của Luật hôn nhân và gia đình.

Về án phí: Bà Đào Thị Hằng N phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 0000635 ngày 25 tháng 02 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ