- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Thúy H ly hôn với Phạm Thanh Đ"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Thúy H với anh Phạm Thanh Đ.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 11/2022/HNGĐ-ST Ngày: 21/02/2022. V/v “Ly hôn giữa Huyền và anh Điền” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Bùi Tuấn Khanh.
2. Ông Võ Minh Quang
- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Thành Trung – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bđ tham gia phiên toà:
Bà Phạm Thị Cẩm Vân- Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 02 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 234/2021/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 10 năm 2021 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2022/QĐXXST -HN ngày 05 tháng 01 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 02/2022/QĐST-HN ngày 28/01/2022 giữa:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thúy H, sinh năm 1989. (có đơn xin giải quyết vắng mặt)
Địa chỉ: ấp BP, xã TT, huyện BĐ, tỉnh Bến Tre.
2. Bị đơn: Anh Phạm Thanh Đ, sinh năm 1989. (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp BP, xã TT, huyện BĐ, tỉnh Bến Tre.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 13/9/2021 và những lời khai tiếp theo nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thúy H trình bày:
Chị và anh Đ chung sống với nhau năm 2011, trên tinh thần tự nguyện và có đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống hạnh phúc, đến tháng 8/2021 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân bất đồng quan điểm sống. Chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn.
Về con chung: có 01 con chung tên Phạm Nguyễn Bảo N, sinh ngày 16/6/2012. Chị Huyền yêu cầu được nuôi cháu N, không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: không có.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng:
Đối với Thẩm phán chấp hành tốt theo quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử, thực hiện đúng các nguyên tắc do pháp luật quy định.
Đối với những người tham gia tố tụng thì nguyên đơn có chấp hành tốt, riêng bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt là vi phạm nghĩa vụ của bị đơn theo quy định tại khoản 16 Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H đối với anh anh Đ.
Về con chung: Tiếp tục giao con chung tên Phạm Nguyễn Bảo N, sinh ngày 16/6/2012, cho chị H được nuôi dưỡng. Ghi nhận chị H nuôi con không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị Thúy H khai không có, nên không xét đến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của kiểm sát viên. HĐXX nhận định:
Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị Thúy H có đơn yêu cầu giải quyết vụ án vắng mặt, anh Phạm Thanh Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần nhưng vắng không có lý do. Do đó, tiến hành xét xử vắng mặt chị H, anh Đ là phù hợp với Điều 227, 288 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thúy H và anh Phạm Thanh Đ chung sống với nhau năm 2011, trên tin thần tự nguyện và có đăng ký kết hôn nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc sau đó thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân được chị H xác định do bất đồng quan điểm và cũng từ tháng 8/2021 chị và anh Đ ly thân nhau cho đến nay. Từ lúc ly thân nhau cho đến nay mỗi người đều có cuộc sống độc lập, không ai quan tâm đến ai, Tòa án tổ chức hòa giải nhiều lần để chị H và anh Điền đoàn tụ nhưng anh Đ không đến, anh Đ có ý thức bỏ mặc hôn nhân giữa anh và chị Huyền. Điều đó, chứng tỏ hôn nhân giữa chị H và anh Đ đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị H yêu cầu ly hôn với anh Đ là có căn cứ, phù hợp với Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: có 01 con chung tên Phạm Nguyễn Bảo N, sinh ngày 16/6/2012. Xét thấy: để đảm bảo được quyền và lợi ích của con chung, cần giao con cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với quy định pháp luật. Ghi nhận chị H nuôi con không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: chị H khai không có nên không xét đến.
Xét đề nghị của Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Thúy H phải chịu án phí là 300.000đ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ các Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Thúy H với anh Phạm Thanh Đ. Chị Nguyễn Thị Thúy H được ly hôn anh Phạm Thanh Đ.
2. Về con chung: Giao 01 con chung tên Phạm Nguyễn Bảo N, sinh ngày 16/6/2012 cho chị Nguyễn Thị Thúy H tiếp tục nuôi dưỡng. Ghi nhận việc chị H nuôi con không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con.
Anh Điền không trực tiếp nuôi con được thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền cản trở. Trong thời gian con chung chưa tròn 18 tuổi chị Huyền được quyền yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, anh Đ được quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con.
3. Về tài sản chung, nợ chung: chị H khai không có, nên không xét đến.
4. Án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Thúy H phải chịu 300.000 đồng, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp nộp theo biên lai thu số 0003339 ngày 28/10/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Đại. Vậy án phí chị Huyền đã nộp đủ.
Chị H, anh Đ vắng mặt, được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bến Tre; - VKSND huyện Bình Đại; - Chi cục THA huyện Bình Đại; - UBND xã An Hiệp, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre; - Các đương sự; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Tuấn |