vanban.org

Bản án 11/2021/KDTM-PT — Tranh chấp về xây dựng

Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 10/11/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nh n kháng cá c a bị đơn - Công ty TNHH MTV X. iữ ng ên bản án Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 10/2021/KDTM-ST ngày 08/7/2021 c a T án nhân ân T B ôn a Th ột tỉnh Đắk ắk;

Công ty TNHH MTV X phải chị 2.000.000 đồng án ph kinh doanh thương mại ph c thẩm được khấ trừ 2.000.000 đồng theo Biên lai số 60AA/2021/0004493 ngày 16/8/2021 tại Chi cục thi h nh án ân sự TP Buôn a Th ột tỉnh Đắk Lắk. Bản án ph c thẩm c hiệ lực pháp l t kể từ ng t ên án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Hành trình vụ án
Phúc thẩm — đang xem Bản án 11/2021/KDTM-PT Tuyên án 10/11/2021
Giám đốc thẩm Bản án 15/2022/KDTM-GĐT Tuyên án 01/12/2022

Hành trình ghép tự động từ trích dẫn giữa các bản án đã công bố — có thể chưa đủ mọi giai đoạn của vụ án.

Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về xây dựng — án kinh doanh thương mại — "V/v tranh chấp hợp đồng gia công, thi công xây dựng"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nh n kháng cá c a bị đơn - Công ty TNHH MTV X. iữ ng ên bản án Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 10/2021/KDTM-ST ngày 08/7/2021 c a T án nhân ân T B ôn a Th ột tỉnh Đắk ắk;
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2021/KDTM-PT.
Ngày 10/11/2021.
V/v tranh chấp hợp đồng gia công,
thi công xây dựng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Duy Phương;

Các Thẩm phán: Ông Hoàng Kim Khánh và bà Đinh Thị Tuyết;

- Thư ký phiên tòa: Ông Dương Công Bình - Thư ký TAND tỉnh Đắk Lắk;

- Đại diện VKSND tỉnh Đắk Lắk: Ông Nguyễn Văn Ban - Kiểm sát viên.

Ngày 10/11/2021 tại trụ sở TAND tỉnh Đắk Lắk tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 06/2021/KDTM-PT ngày 11/10/2021 về việc “Tranh ch p h p đồng gia công, thi công xây d ng” giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công ty TNHH S;

Đại iện th pháp l t: B hạm Thị Tr c – iám đốc;

Đại iện th

ền: ng hạm Tiến : Có mặt tại phiên toà;

Cùng địa chỉ: 01 đường N, TP tỉnh ia ai.

- Bị đơn: Công ty TNHH MTV X;

Đại iện th pháp l t: ng g ễn Văn T - iám đốc: Có mặt tại phiên toà; Địa chỉ: 568 đường 1 T B tỉnh Đắk ắk.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Ông Nguyễn Hữ T1 - Địa chỉ: 477 đường 1 T B tỉnh Đắk ắk: Vắng mặt tại phiên toà ;

+ ng Vũ Thiện S1 - Địa chỉ: 568 đường 1 T B tỉnh Đắk ắk: Vắng mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Nguyên đơn trình bày:

Công ty TNHH S trước đây là D anh nghiệp tư nhân S, vì theo iấ chứng nh n đăng ký d anh nghiệp do Sở Kế hoạch và đầu tư tỉnh Gia Lai cấp ngày 02/01/2018 mọi ền v nghĩa vụ c a D anh nghiệp tư nhân S đã được ch ển gia t n bộ ch Công t T HH S (sau đây gọi tắt là Công ty S).

Từ ng 09/5/2013 đến ng 28/01/2015 Công ty S và Công ty TNHH MTV X (sau đây gọi tắt là Công ty X) có ký 03 Hợp đồng kinh tế: số 302 ngày 09/5/2013 giá trị 11.110.325.000 đồng, số 04 ngày 23/6/2014 giá trị 1.165.852.000 đồng và số 80 ngày 28/01/2015 giá trị l 2.843.172.000 đồng.

Tr ng á trình thực hiện, Công ty S đã thực hiện đ ng các cam kết trong hợp đồng và tất cả đã được nghiệm thu. Công ty X đã thanh toán, trả phần lớn giá trị các hợp đồng nói trên. Còn một phần nhỏ chưa thanh toán, đã đối chiế v xác nh n công nợ bằng văn bản: ng 30/9/2017 còn nợ l 96.096.296 đồng và ng 31/10/2017 còn nợ l 2.286.771.354 đồng. Ngày 14/3/2018 đã trả 30.000.000 đồng đối với Hợp đồng số 04. Tính đến ngày 01/02/2019 đã trả nhiều đợt với số tiền 650.000.000 đồng cho Hợp đồng số 302 và số 80 (Thời điểm, số tiền thanh toán cụ thể có bảng sao kê tài khoản ngân hàng kèm theo). Hiện nay còn nợ Hợp đồng số 04 là 66.096.296 đồng, Hợp đồng số 302 và số 80 là 1.636.771.354 đồng.

Nguyên đơn ê cầ Tòa án b ộc Công ty X phải trả nợ gốc từ các Hợp đồng nói trên 1.702.867.650 đồng và trả nợ lãi phát sinh ch m trả th định c a

t thương mại với mức 9.7%/năm (Kể từ ng xác nh n nợ đến ng

31/5/2021 là 592.378.668 đồng). Tại phiên tòa sơ thẩm, ng ên đơn ê cầ trả số nợ gốc nói trên v 609.858.165 đồng lãi ch m thanh t án (T nh từ ng đối chiế nợ đến ngày xét xử sơ thẩm).

2. Bị đơn trình bày:

Các hợp đồng kinh tế v hồ sơ thanh t án giữa Công t X v

anh nghiệp tư nhân S thực hiện trước ng 23/7/2019 đang tr ng giai đ ạn xử lý sa thanh tra, điề tra v chờ kết ả c ối c ng c a các cơ an chức năng. T n bộ số liệ liên an đến nội ng khởi kiện c a anh nghiệp tư nhân S đã á lâ v a nhiề thời k Giám đốc, các ông: Đ Văn H, Vũ Văn Y, g ễn Hữ T1, hạm Văn T2 chưa được đối chiế kiểm tra xác minh lại công nợ cũng như r s át lại hồ sơ pháp lý liên an đến việc ký nghiệm th thanh t án xác nh n giữa hai bên.

đ nguyên đơn khởi kiện thì đề nghị đối chiế lại số nợ v ng ồn tiền trả. Sa khi Cục điề tra hình sự c a Bộ ốc phòng ch ển tiền khắc phục về thì ch ng tôi s thanh t án ch Công ty S .

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:

- Ông g ễn Hữ T1: Xác nh n việc nguyên đơn v Công t X l c an hệ với nha 02 hợp đồng thi công hợp đồng g i thầ số 23 hồ chứa nước s ối kh vực tỉnh h ên v hợp đồng g i thầ số 6 cầ h Cần tỉnh ia ai thời gian thực hiện hợp đồng kh ảng năm 2012 đến năm 2014 l kết th c. Thời gian n ch thể ký hợp đồng l người khác bản thân nh n nhiệm vụ tha thế ch thể từ năm 2016 v đề nghị x m xét lại hợp đồng để c gì mời ch thể tr ng hợp đồng giải th ch nế c vướng mắc. Công nợ kh ng định l c nhưng ba nhiê không nắm được vì l người kế nhiệm nh n lại công nợ v c trả nợ c xác nh n công nợ c văn bản. V tòa án căn cứ v văn bản công nợ để giải

ết vì bản thân không điề h nh công t đã gần 02 năm rồi nên không biết hiện na công nợ l ba nhiê . Đề nghị tòa án căn cứ v chứng cứ từ gốc để xác định.

- ng Vũ Thiện S1, ông g ễn Hữ T1 đã được triệ t p hợp lệ nhưng không tham gia tố tụng tại Tòa án .

Tại bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 10/2021/KDTM-ST ngày 08/7/2021 c a TAND TP Buôn Ma Thuột đã quyết định: Căn cứ kh ản 3 Điề 26; điểm a kh ản 1 Điề 35; a kh ản 1 Điề 39; Điề 147; Điề 165; Điề 220; Điề 266; Điề 271; Điề 273 Bộ l t tố tụng ân sự; Điề 357; Điề 401; Điề 403; Điề 418 Điề 429; Điề 468; Điề 542 552 Bộ l t ân sự; Điề 113 Điề 114

t xâ ựng; Điề 306

t thương mại; Kh ản 1 Điề 12; kh ản 2 Điề 26 ghị

ết 326/2016/UBTVQH14 c a Ủ ban thường vụ Q ốc hội: Chấp nh n ê cầ khởi kiện c a ng ên đơn Công ty TNHH S; B ộc Công t TNHH MTV X phải trả ch Công ty TNHH S số tiền nợ gốc l 1.702.867.650 đồng v tiền lãi l 609.858.165 đồng;

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về lãi s ất giai đ ạn thi h nh án chi ph tố tụng án ph v

ền kháng cá . Bị đơn kháng cá toàn bộ bản án sơ thẩm v đề nghị cấp ph c thẩm xét xử th hướng huỷ bản án sơ thẩm nói trên.

Tại phiên toà phúc thẩm:

Đại iện ỷ

ền nguyên đơn giữ ng ên ê cầ khởi kiện lời khai, trình b các t i liệ chứng cứ đã c ng cấp tại cấp sơ thẩm không c ng cấp t i liệ chứng cứ n mới đề nghị Hội đồng xét xử ph c thẩm giữ ng ên án sơ thẩm;

Bị đơn giữ ng ên nội ng kháng cá giữ ng ên lời khai, trình bày, các t i liệ chứng cứ đã c ng cấp tại cấp sơ thẩm không c ng cấp t i liệ chứng cứ n mới đề nghị Hội đồng xét xử ph c thẩm huỷ bản án sơ thẩm nói trên.

Đại iện VKSND tỉnh Đắk ắk phát biể ý kiến ch rằng: Cấp sơ thẩm đã không lấy lời khai c a ông Vũ Thiện S1 - Đội trưởng Đội 5, không đưa ông Vũ Văn Y - nguyên Giám đốc, Nguyễn gọc T2 - nguyên Đội trưởng Đội 5 c a Công ty X vào tham gia với tư cách người có nghĩa vụ liên quan đến vụ án là vi phạm nghiêm trọng th tục tố tụng do v đề nghị Hội đồng xét xử ph c thẩm huỷ bản án sơ thẩm nói trên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

1. Về thủ tục tố tụng:

- Về tư cách khởi kiện c a nguyên đơn:

Theo iấ chứng nh n đăng ký d anh nghiệp do Sở Kế hoạch và đầu tư tỉnh Gia Lai cấp ngày 02/01/2018 Công ty TNHH S chuyển đổi từ D anh nghiệp tư nhân S, do v mọi

ền v nghĩa vụ c a D anh nghiệp tư nhân S đã được ch ển gia t n bộ ch Công t T HH S. Do v nguyên đơn khởi kiện Công ty X về công nợ c a các hợp đồng trước đây c a D anh nghiệp tư nhân S là có cơ sở pháp lý và đ tư cách tố tụng tại Toà án.

- Về việc thu th p chứng cứ, tài liệ tại cấp sơ thẩm:

T n bộ chứng cứ t i liệ có trong hồ sơ vụ án đã th th p được tại cấp sơ thẩm đều do nguyên đơn và bị đơn c ng cấp c đ ng ấ xác nh n như nội ng bản ch nh c a pháp nhân lư trữ bản gốc hoặc công chứng, chứng thực bản sao như bản chính c a cơ quan công chứng, chứng thực theo quy định pháp lu t công chứng, chứng thực. hư v chứng cứ t i liệ đã th th p c tr ng hồ sơ vụ án pháp nhân h ặc cơ nh nước c thẩm

ền c ng cấp,lư trữ công chứng chứng thực.

Tr ng á trình giải

ết vụ án không c khiế nại tố cá tranh chấp mâ th ẫn ê cầ giám định… n liên an đến việc th th p đánh giá chứng cứ t i liệ liên an đến vụ án. Việc th th p đánh giá giá trị t i liệ chứng cứ c a vụ án tại cấp sơ thẩm đảm bả đ ng th các

định từ Điề 91 đến Điề 110 Bộ l t tố tụng ân sự năm 2015, d v các chứng cứ t i liệ đã th th p tr ng hồ sơ vụ án đề c giá trị chứng minh tr ng vụ án.

2. Xét kháng cáo của bị đơn:

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán phần còn nợ gốc và lãi suất c a số tiền 1.702.867.650 đồng c a 03 Hợp đồng kinh tế (Tổng giá trị là 15.119.349.000 đồng). Tài liệ , chứng cứ là văn bản xác nh n nợ: Ngày 30/9/2017 còn nợ l 96.096.296 đồng và ng 31/10/2017 còn nợ l 2.286.771.354 đồng.

Bị đơn cho rằng quá trình ký kết, thực hiện, nghiệm thu, quyết toán, trả nợ... các hợp đồng nói trên có sai phạm như: Nguyên đơn ký không đ ng người có thẩm quyền c a bị đơn, không có hợp đồng, chứng từ gốc, quá trình thi công, thực hiện hợp đồng có nhiều sai phạm, bị phạt hợp đồng, các Giám đốc, đội trưởng, nhân viên cũ c a Công ty X có nhiều sai phạm, bị thanh tra, kiểm tra, điều tra hình sự khi tham gia ký kết, thực hiện, nghiệm thu, quyết toán, trả nợ các hợp đồng nói trên... Công ty X phải kiểm tra, rà soát, tính toán lại từng khoản, từng nội dung hoá đơn, chứng từ, sổ sách kế toán, tiến hành phạt hợp đồng... sau đ mới nghiệm thu, thanh toán, trả nợ cho nguyên đơn.

Qua kiểm tra, đối chiếu bản sao kê tài khoản số 62010000102826 c a Công ty S do Ngân hàng đầu tư và phát triển tỉnh Gia Lai xác nh n và cung cấp, thì tại các thời điểm sau đây, Công ty X đã chuyển trả một phần số nợ trên qua tài khoản số 6310000000735 c a Công ty X mở tại Ngân hàng đầu tư và phát triển Đắk Lắk :

Ngày 23/11/2017: chuyển trả 200.000.000 đồng;

Ngày 12/02/2018: chuyển trả 300.000.000 đồng;

Ngày 14/03/2018: chuyển trả 30.000.000 đồng;

Ngày 03/01/2019: chuyển trả 100.000.000 đồng

Ngày 01/02/2019: chuyển trả 50.000.000 đồng.

Số tài khoản 6310000000735 tại Ngân hàng đầu tư và phát triển Đăk Lắk c a Công ty X cũng thể hiện đầy đ , rõ ràng, chi tiết trong phần thông tin pháp nhân c a Công ty X khi tham gia ký kết 03 Hợp đồng kinh tế nói trên. Bảng sao kê nói trên cũng phù hợp với lời khai c a Công ty S về việc Công ty X sau khi xác nh n nợ năm 2017 thì vào năm 2018 và năm 2019 đã trả một phần nợ như sau: Ngày 14/3/2018: trả 30.000.000 đồng đối với Hợp đồng số 04. Tính đến ngày 01/02/2019 đã trả nhiều đợt với số tiền 650.000.000 đồng cho Hợp đồng số 302 và số 80.

Sau khi chuyển trả một phần số nợ, về nguyên tắc, hệ thống kế toán và người đứng đầu pháp nhân - Giám đốc Công ty X đã mặc nhiên biết và thừa nh n văn bản xác nh n nợ và số nợ mà các cá nhân đại diện cho Công ty X đã xác nh n vào các ngày 30/9/2017 và ngày 31/10/2017 là có th t. Như v , có cơ sở thực tế và căn cứ pháp lu t để kh ng định rằng: Việc ký kết, thực hiện, nghiệm thu, quyết toán, trả nợ... 03 Hợp đồng kinh tế nói trên, hệ thống kế toán và người đứng đầu pháp nhân - Giám đốc Công ty X đã biết, buộc phải biết, đã chấp nh n và không có ý kiến không đồng ý hay ý kiến phản đối nào khi ký kết, thực hiện, nghiệm thu, quyết toán, xác nh n công nợ... đối với 03 Hợp đồng kinh tế nói trên, trong đ có việc trả số nợ còn lại.

Bị đơn cho rằng: Quá trình ký kết, thực hiện, nghiệm thu, quyết toán, trả nợ... các hợp đồng nói trên có sai phạm như: Nguyên đơn ký không đ ng người có thẩm quyền c a bị đơn, không có hợp đồng, chứng từ gốc, quá trình thi công, thực hiện hợp đồng có nhiều sai phạm, ch m tiến độ, bị phạt hợp đồng... phải kiểm tra, rà soát, tính toán lại từng khoản, từng nội dung hoá đơn, chứng từ, sổ sách kế toán, tiến hành phạt hợp đồng... sau đ mới nghiệm thu, thanh toán, trả nợ cho nguyên đơn là không có căn cứ thực tế và cơ sở pháp lu t để chấp nh n ý kiến này c a bị đơn.

Bị đơn cho rằng: Các Giám đốc, Đội trưởng, nhân viên cũ... c a Công ty X có nhiều sai phạm, bị thanh tra, kiểm tra, điều tra hình sự... khi tham gia ký kết, thực hiện, nghiệm thu, quyết toán, trả nợ các hợp đồng nói trên... Hội đồng xét xử nh n thấy rằng: Đây là các công việc thuộc về nội bộ pháp nhân Công ty X, nếu các cá nhân này có sai phạm thì Công ty X có quyền yêu cầu các cá nhân này bồi thường về mặt dân sự theo trách nhiệm cá nhân với pháp nhân. Thực tế trong vụ án này cấp sơ thẩm đã thu th p được Kết lu n điều tra số 01/KLĐT ngày 20/7/2020 c a Cơ quan điề tra hình sự thuộc Bộ Quốc phòng, theo đ ông Nguyễn Hữ T1, ông Vũ Văn Y và ông Đ

S2 đã nộp 85.500.000.000 đồng để khắc phục h quả sai phạm, đã hoàn trả cho Công ty X số tiền 78.478.070.205 đồng. Do v , việc xác định thiệt hại do các cá nhân trước đây gây nên (Các Giám đốc, Đội trưởng, nhân viên cũ...) c a Công ty X như lời trình bày c a bị đơn đã được xác định trong Kết lu n điề tra nói trên.

Tại phiên toà phúc thẩm, bị đơn không c ng cấp t i liệ chứng cứ n mới để làm thay đổi cơ bản bản chất c a vụ án so với cấp sơ thẩm. Do v cấp sơ thẩm chấp nh n yêu cầu khởi kiện c a nguyên đơn về số tiền nợ gốc và mức lãi suất 9 7%/năm theo

định tại Điề 306 L t thương mại năm 2005 là có căn cứ thực tế và có cơ sở pháp lu t.

3. Về ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên toà:

Trong vụ án này, các cá nhân tham gia quản lý, ký kết, thực hiện, nghiệm thu, quyết toán, trả nợ... các hợp đồng nói trên như ông Nguyễn Hữ T1, ông Vũ Thiện S1, ông Vũ Văn Y, ông Nguyễn gọc T2... chỉ là các cá nhân thừa hành nhiệm vụ c a pháp nhân - Công ty X trong một giai đoạn nhất định. Do v , về ý nghĩa chứng cứ, giá trị chứng minh, lời khai c a các cá nhân này chỉ có giá trị là biết sự việc liên quan đến vụ án. Nếu không biết, không nhớ được sự việc hay không hợp tác với Toà án... thì có các tài liệ , chứng cứ lưu trữ tại pháp nhân để chứng minh nghĩa vụ, trách nhiệm c a pháp nhân - Công ty X. Nếu không lưu trữ tại Công ty X thì lưu trữ ở bên khác c a việc thực hiện hợp đồng như: Công ty S hoặc tại các cơ quan thuế, ngân hàng, kiểm toán, cơ quan quản lý doanh nghiệp, cơ quan quản lý nhà nước cấp trên....

Các cá nhân này nếu có chết, mất tích, về hưu, chuyển công tác, thôi việc, nghỉ việc, bị kỷ lu t, bị tạm giam, đi chấp hành án... hoặc không hợp tác với cơ quan Toà án trong vụ án đề không ảnh hưởng đến hoạt động, tư cách, nghĩa vụ... c a pháp nhân - Công ty X, không ảnh hưởng đến tính đ ng đắn, khách quan khi cơ quan Toà án giải quyết vụ án. Do v việc đưa các cá nhân này tham gia vụ án với tư cách là người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là không cần thiết và không đ ng tư cách tố tụng vì họ chỉ là nhân chứng - là người biết sự việc trong một giai đoạn nhất định, không có trách nhiệm, nghĩa vụ gì với nguyên đơn khi nguyên đơn yêu cầu pháp nhân - Công ty X trả nợ.

Từ những phân tích và nh n định trên, Hội đồng xét xử nh n thấy không có cơ sở thực tế và căn cứ pháp lu t để chấp nh n kháng cáo c a bị đơn và đề nghị c a đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tại phiên toà phúc thẩm về quan điểm giải quyết vụ án.

V các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ kh ản 1 Điề 308 Bộ l t tố tụng ân sự năm 2015;

Tuyên xử:

Không chấp nh n kháng cá c a bị đơn - Công ty TNHH MTV X. iữ ng ên bản án Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 10/2021/KDTM-ST ngày 08/7/2021 c a T án nhân ân T B ôn a Th ột tỉnh Đắk ắk;

Công ty TNHH MTV X phải chị 2.000.000 đồng án ph kinh doanh thương mại ph c thẩm được khấ trừ 2.000.000 đồng theo Biên lai số 60AA/2021/0004493 ngày 16/8/2021 tại Chi cục thi h nh án ân sự TP Buôn a Th ột tỉnh Đắk Lắk.

Bản án ph c thẩm c hiệ lực pháp l t kể từ ng t ên án.

Cỡ chữ