vanban.org

Bản án 11/2021/HSST — Hình sự

TAND Q. Ba Đình, TP. Hà Nội Tuyên án 13/01/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: Bị cáo Hoàng Văn T 03 (Ba) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26 tháng 8 năm 2020.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điểm c, khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điểm a, b khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Văn T bị truy tố về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, khoản 2, Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015. - phạm tội mua bán tr…"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Hoàng Văn T 03 (Ba) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26 tháng 8 năm 2020.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BA ĐÌNH
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2021/HSST
Ngày 13 tháng 01 năm 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Long

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Thụy

2. Bà Lương Thị Phương

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thùy Linh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Thanh – Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 01 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội đưa ra xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 249/2020/TL - HSST ngày 11 tháng 12 năm 2020; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 423/2020/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 12 năm 2020 đối với:

Bị cáo Hoàng Văn T, sinh năm 1981; Đăng ký hộ khẩu: Số 67, ngõ 318 L, phường X, quận Đ, thành phố Hà Nội; Nơi cư trú: Không nơi ở cố định; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Họ và tên bố: Hoàng Văn Q, sinh năm 1952; Họ và tên mẹ: Vũ Thị N, sinh năm 1959; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con cả; Họ và tên vợ: Nguyễn Thị B, sinh năm 1985, có 01 con sinh năm 2015; Nhân thân: 01 tiền án (đã xóa), 01 tiền sự: Ngày 25/01/2006 cai nghiện bắt buộc 24 tháng tại Trung tâm cai nghiện số 2 Ba Vì, Hà Nội. Về địa phương 25/01/2008. Bản án số 89/2009/HSST ngày 17/03/2009, Tòa án nhân dân quận Đ, thành phố Hà Nội, xử phạt 28 tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, ra trại: 15/01/2011. Nộp án phí HSST ngày 04/02/2010. Bị cáo bị bắt quả tang ngày 26/08/2020. Hiện đang tạm giam tại trại tạm giam số I - Công an thành phố Hà Nội. Số giam: 4273V1/buồng 21. Có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị Bích P, sinh năm 1985. Nơi cư trú: Thôn An Đà, xã Đặng Xá, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 45 phút ngày 26 tháng 8 năm 2020 tại đối diện tòa nhà B7, Giảng Võ, phường Giảng Võ, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội; Hoàng Văn T đã có hành vi bán trái phép 02 gói Heroine có khối lượng 0,234 gam cho đối tượng tên Hoàng (không rõ lai lịch địa chỉ) với giá 400.000 đồng thì bị tổ công tác Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy – Công an quận Ba Đình phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng. Lợi dụng sơ hở đối tượng Hoàng chạy thoát. Ngoài ra, T còn khai nhận đây là lần thứ hai bán ma túy cho Hoàng, lần đầu vào ngày 24/8/2020, T bán cho Hoàng 01 gói Heroine với giá 200.000 đồng, Hoàng đã đưa cho T một tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng. Tổ công tác đã đưa T cùng tang vật về trụ sở để làm rõ.

Ngoài số ma túy bị thu giữ nêu trên, tổ công tác còn thu giữ của T:

- 01 điện thoại Iphone7 Plus màu đen đã cũ; Số tiền 587.000 đồng; 01 xe máy Wave RSX màu đen đã qua sử dụng, BKS: 30M1-7720, SK: 027911, SM: 5932143.

Tại cơ quan điều tra Hoàng Văn T khai nhận: Khoảng 21 giờ ngày 25 tháng 8 năm 2020, T đi xe máy một mình đến khu vực ngõ 87 Láng Hạ, phường Thành Công, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội tìm mua Heroine. Tại đây, T gặp một người đàn ông không quen biết và mua của anh ta 01 túi nilong màu trắng chứa Heroine với giá 300.000 đồng. Mua xong, T cất vào trong người và đi tìm nơi sử dụng. Tại khu vực Giảng Võ, T lấy một ít ra để sử dụng, còn lại T gói lại như cũ và cất vào túi quần. Khoảng 10 giờ ngày 26/8/2020, T đi uống thuốc Methadone tại đường Nguyễn Chí Thanh, thành phố Hà Nội, khi đi đến phố Vũ Thạnh, T dừng lại lấy túi nilong cất trong túi quần ra chia làm 02 gói (01 gói bọc nilong màu trắng, 01 gói nilong màu hồng) rồi cho vào túi nilong ban đầu cất vào túi quần trước bên trái. Đến 13 giờ 45 phút cùng ngày, T đi xe máy đến đối diện tòa nhà B7 Giảng Võ trên phố Trần Huy Liệu, phường Giảng Võ, quận Ba Đình thì gặp Hoàng (bạn xã hội, không biết tên, địa chỉ cụ thể). Tại đây, Hoàng hỏi mua của T 02 gói Heroine với giá 400.000 đồng, T đồng ý cầm 400.000 đồng và đang định đưa 02 gói Heroine cho Hoàng thì bị tổ công tác Đội điều tra tội phạm về ma túy – Công an quận Ba Đình phát hiện bắt giữ. Lợi dụng sơ hở Hoàng chạy thoát. Ngoài ra, T còn khai đây là lần thứ hai bán ma túy cho Hoàng, lần đầu vào ngày 24/8/2020, T đã bán cho Hoàng 01 gói Heroine với giá 200.000 đồng, Hoàng đã đưa cho T một tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng.

Kết luận giám định số: 7780/KLGĐ-PC09 ngày 01 tháng 9 năm 2020 của phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: “Chất bột màu trắng bên trong 01 gói nilong màu trắng và 01 gói nilong màu hồng đều là ma túy loại Heroine, tổng khối lượng 0,234gam”.

Cáo trạng số: 226/CT-VKS ngày 26 tháng 11 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, khoản 2, Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa bị cáo Hoàng Văn T thay đổi lời khai và khai nhận ngày 26/8/2020 là lần đầu bán ma túy cho Hoàng, ngoài ra không bán ma túy cho ai khác. Quá trình xét hỏi đấu tranh tại phiên tòa, Hoàng Văn T vẫn giữ nguyên lời khai là lần đầu bán ma túy cho Hoàng thì bị bắt giữ.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Căn cứ lời khai của Hoàng Văn T tại các bút lục từ 34 - 45 được Hội đồng xét xử công bố tại phiên tòa, lời khai của Hoàng Văn T tại phiên tòa hôm nay cùng các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ có đủ cơ sở kết luận Hoàng Văn T bán ma túy cho đối tượng tên Hoàng một lần vào ngày 26/8/2020 với giá 200.000 đồng.

Tại phần xét hỏi của phiên tòa hôm nay, Đại diện Viện kiểm sát có quan điểm giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Xét thấy, ngoài lời khai của bị cáo ngày hôm nay, không còn tài liệu chứng cứ nào khác chứng minh hành vi bán ma túy nhiều lần của bị cáo, nên đại diện Viện kiểm sát rút quan điểm truy tố bị cáo Hoàng Văn T từ điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự xuống khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xét nhân thân bị cáo có 01 tiền án đã xóa án tích, 01 tiền sự đã hết thời hiệu, thái độ khai báo thành khẩn. Đề nghị về hình phạt: Áp dụng Điều 319 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015, khoản 1 Điều 251; Điều 38; Điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo mức án từ 3 năm tù đến 3 năm 6 tháng tù.

Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để tịch thu và tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong bên trong có chứa 0,234 gam ma túy Heroine đã qua giám định có chữ ký của giám định viên và đối tượng. Trả lại cho bị cáo: 01 (một) điện thoại di động Iphone 7 plus màu đen đã cũ có số IMEI: 356572080899089, số sim: 0967206322;

Đối với số tiền 587.000 đồng thu giữ của bị cáo. Xét thấy có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên đề nghị, HĐXX tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Đối với 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda Wave RSX màu đen, BKS: 30M1-7720, SK: RLHJC4323BY027911, SM: JC43E-5932143 đã cũ, qua xác minh chị Nguyễn Thị Bích P là chủ sở hữu hợp pháp nên trả lại cho chị Nguyễn Thị Bích P.

Đối với đối tượng bán ma túy cho T và đối tượng Hoàng mua ma túy của T, cơ quan điều tra đã T hành rà soát, hiện không xác định được nhân thân lai lịch cụ thể nên không có căn cứ để xử lý.

Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.

Sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội, bị cáo đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố không có tranh luận gì. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo được sớm trở về gia đình.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo và người làm chứng.

NHẬN ĐỊNH HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

[1] Quá trình điều tra, truy tố liên quan đến việc giải quyết vụ án (Về hành vi, các quyết định tố tụng), Điều tra viên, Kiểm sát viên đã T hành đúng các quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2015;

[2] Nội dung: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai nhận: Khoảng 13 giờ 45 phút, ngày 26/8/2020, tại đối diện tòa nhà B7, Giảng Võ, phường Giảng Võ, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, Hoàng Văn T đã có hành vi bán trái phép 02 gói Heroine có khối lượng 0,234 gam cho đối tượng tên Hoàng (không rõ lai lịch, địa chỉ) với giá 400.000 đồng thì bị tổ công tác Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy – Công an quận Ba Đình phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng. Lợi dụng sơ hở, đối tượng Hoàng chạy thoát.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay mâu thuẫn với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Xét thấy, lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra là chứng cứ duy nhất, không có chứng cứ nào khác phù hợp với lời khai của bị cáo. Căn cứ khoản 2 Điều 98 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015, không đủ chứng cứ để kết tội bị cáo phạm tội theo điểm b, khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015. Căn cứ vào lời khai của bị cáo tại phiên tòa, ý kiến và quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa rút yêu cầu truy tố từ điểm b, khoản 2, Điều 251 xuống khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản kết luận giám định cùng các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án là phù hợp với nội dung rút truy tố của bản cáo trạng. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương. Xét nhân thân bị cáo có 01 tiền án (đã xóa), 01 tiền sự: Ngày 25/01/2006 cai nghiện bắt buộc 24 tháng tại Trung tâm cai nghiện số 2 Ba Vì. Về địa phương 25/01/2008. Bản án số 89/2009/HSST ngày 17/03/2009, Tòa án nhân dân quận Đ, thành phố Hà Nội, xử phạt 28 tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, ra trại: 15/01/2011. Nộp án phí HSST ngày 04/02/2010. Do vậy cần thiết phải có hình phạt tương xứng áp dụng đối với bị cáo mới có đủ tác dụng cải tạo, giáo dục thành người có ích cho xã hội và phòng ngừa làm gương cho người khác biết tôn trọng pháp luật.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo: Bị cáo không có các tình tiết tăng nặng hình phạt. Khi xem xét, quyết định mức hình phạt đối với bị cáo: Hội đồng xét xử xét thái độ của bị cáo tại phiên tòa thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải với hành vi phạm tội của mình. Do đó cần thiết áp dụng điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

[3] Xử lý vật chứng:

Tịch thu và tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong bên trong có chứa 0.234 gam ma túy Heroine đã qua giám định có chữ ký của giám định viên và đối tượng; Đối với 01 (một) điện thoại di động Iphone 7 plus màu đen đã cũ có số IMEI: 356572080899089, số sim: 0967206322, xét không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo; Đối với 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda Wave RSX màu đen, BKS: 30M1-7720, SK: RLHJC4323BY027911, SM: JC43E-5932143 đã cũ. Tại các biên bản ghi lời khai của bị cáo, người liên quan trong quá trình điều tra vụ án. Xét thấy không liên quan đến vụ án và là tài sản hợp pháp của chị Nguyễn Thị Bích P nên trả lại cho chị P.

Đối với số tiền 587.000 đồng thu giữ của bị cáo. Xét thấy có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Đối với đối tượng bán ma túy cho T và đối tượng Hoàng mua ma túy của T, cơ quan điều tra đã T hành rà soát, hiện không xác định được nhân thân lai lịch cụ thể nên không có căn cứ để xử lý.

Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.

[4] Đề nghị của Kiểm sát viên - Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về Điều luật áp dụng, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như phần xử lý vật chứng là có căn cứ, phù hợp các quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

[5] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các căn cứ, nhận định của Hội đồng xét xử;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1, Điều 251; Điều 38; Điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 319 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015.

Xử phạt: Bị cáo Hoàng Văn T 03 (Ba) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26 tháng 8 năm 2020.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Xử lý vật chứng: Căn cứ Điểm c, khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điểm a, b khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Tịch thu và tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong bên trong có chứa 0,234 gam ma túy Heroine đã qua giám định bên ngoài có chữ ký của Giám định viên và đối tượng theo Biên bản giao vật chứng số 44 CSĐT(ĐTMT) ngày 27/11/2020 của Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận Ba Đình; Tịch thu sung quỹ Nhà Nước số tiền 587.000 đồng theo Giấy nộp tiền vào tài khoản số 3949.0.1061691 của Chi cục thi hành án dân sự quận Ba Đình ngày 27/11/2020;

Trả lại cho bị cáo 01 (một) điện thoại di động Iphone 7 plus màu đen đã cũ có số IMEI: 356572080899089, số sim: 0967206322; Trả lại cho chị Nguyễn Thị Bích P: 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda Wave RSX màu đen, BKS: 30M1-7720, SK: RLHJC4323BY027911, SM: JC43E-5932143 đã cũ theo Biên bản giao vật chứng số 44 CSĐT(ĐTMT) ngày 27/11/2020 của Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận Ba Đình.

- Án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí số: 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015; Điều 23, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày 13 tháng 01 năm 2021./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ