- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Điểm a, điểm c Khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 11/2021/HSST Ngày: 10 – 03 – 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH - TỈNH HÀ TĨNH
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Xuân Hoàng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Văn Nhưng
2. Bà Nguyễn Văn An
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Hoài Thanh, Thư Ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Xuân Diệu, Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 03 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 04/2021/HSST ngày 28 tháng 01 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2021/XXHSST – HS, ngày 23/02/2021 đối với bị cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Văn L; giới tính: Nam; tên gọi khác: Không;
Sinh ngày 08 tháng 12 năm 1980, tại xã H, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nơi đăng ký NKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn W, xã H, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; trình độ văn hóa: 04/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; con ông: Nguyễn Văn Z (đã chết); con bà: Nguyễn Thị X, sinh năm: 1946; vợ: Hoàng Thị T, sinh năm 1981; con: Có 04 đứa (đứa lớn tuổi nhất sinh năm 2000, đứa nhỏ tuổi nhất sinh năm 2016); tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 09/5/2013, bị Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 24 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Bản án số 25/2013/HSST. Ngày 09/8/2014, bị cáo chấp hành xong án phạt tù theo giấy chứng nhận số 618 ngày 09/8/2014 của Trại giam Đồng Sơn - Tổng cục VIII. Bị cáo Nguyễn Văn L đã chấp hành xong các khoản án phí và truy thu sung công quỹ nhà nước vào năm 2013; biện pháp ngăn chặn: Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/12/2020 đến nay.
(Bị cáo có mặt tại phiên toà)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Hoàng Thị T, sinh năm 1981; địa chỉ: Thôn W, xã H, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh (Có mặt)
Những người tham gia tố tụng khác
Người làm chứng:
- Anh Doãn Văn D, sinh năm 1969; địa chỉ: Thôn W, xã H, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt).
- Anh Doãn Trí Đ, sinh năm 1972; địa chỉ: Thôn W, xã H, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt).
- Anh Lê Viết O, sinh năm 1997; địa chỉ: Thôn W, xã H, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt).
Người chứng kiến:
- Anh Ngô Đình F, sinh ngày 03/9/1972; địa chỉ: Thôn W, xã H, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt).
- Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1982; địa chỉ: Thôn W, xã H, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt).
- Anh Lê Quang V, sinh năm 1997; địa chỉ: Thôn W, xã H, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt).
- Chị Nguyễn Thị R, sinh năm 1987; địa chỉ: Thôn N, xã B, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt).
- Anh Trần Tiến S, sinh năm 1993; địa chỉ: Tổ dân phố HT, phường L, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt).
- Anh Nguyễn Đức G, sinh năm 1993; địa chỉ: Công an viên xã H, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn L là đối tượng nghiện ma túy, để có ma túy sử dụng hằng ngày, L thường đi sang khu vực thị trấn ĐL, huyện TH, tỉnh Quảng Bình tìm người bán ma túy để mua ma túy về sử dụng. Vào khoảng 09h00 ngày 25/12/2020, Nguyễn Văn L một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Sirius mang BKS 38K1- 549.80 (xe đăng ký mang tên chị Hoàng Thị T, sinh năm 1981- trú tại Thôn W, xã H, huyện K, là vợ của L) xuất phát từ nhà thuộc Thôn W, xã H, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh đi sang khu vực thị trấn ĐL, huyện TH, tỉnh Quảng Bình nhằm mục đích mua ma túy về sử dụng, đến khoảng 10h cùng ngày khi đến thị trấn ĐL, Nguyễn Văn L một mình đi vào chợ ĐL, tại đây L tìm gặp một người đàn ông (L không rõ nhân thân, lai lịch) mà trước đây đã từng mua ma túy của người này rồi đưa cho người đàn ông này 500.000 đồng với mục đích để mua ma túy. Người đàn ông này nhận tiền rồi nói với L đứng đợi, còn người này đi ra khỏi khu vực chợ, một lúc sau người đàn ông này quay lại nói với L ra khu vực cổng chào thị trấn ĐL nhận ma túy. Sau đó Nguyễn Văn L ra khỏi khu vực chợ điều khiển xe mô tô đi đến cổng chào thị trấn ĐL và tìm thấy ở chân cổng chào có một gói giấy bạc, L mở ra kiểm tra thì thấy bên trong gói giấy bạc có bọc một mảnh ni lông màu đen bên trong mảnh ni lông có chứa ma túy, L gói lại như cũ rồi bỏ vào trong túi áo khoác bên phải mình đang mặc trên ngươi sau đó điều khiển xe mô tô đi về nhà. Đến 13h30„ cùng ngày, khi Nguyễn Văn L về đến nhà thì bị lực lượng Công an huyện Kỳ Anh phát hiện và bắt giữ.
Tại bản kết luận giám định số 17/GĐMT-PC09 ngày 26/12/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Tĩnh kết luận: Chất đựng trong gói giấy bạc ở trên là Heroin với tổng khối lượng là 0,3535g (không phẩy ba lăm ba lăm gam). Heroin là chất ma túy nằm trong Danh mục I, STT 09, Nghị định 73 ngày 15/5/2018 của Chính phủ.
Vật chứng thu giữ và xử lý:
- Đối với: 480.000 đồng tiền Việt Nam đang có giá trị lưu hành; 01 giấy phép lái xe hạng A1 số 420113060261 mang tên Nguyễn Văn L, tất cả đều thu trên người Nguyễn Văn L đã trả lại cho chủ sở hữu.
- Đối với: 0,3223 gam Heroine được niêm phong trong một phong bì thư (số lượng còn lại sau khi lấy mẫu giám định); 01 gói thuốc lá nhãn hiệu Seabire (đã bóc võ sử dụng), đều thu trên người Nguyễn Văn L; 01 chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA Sirius mang BKS 38K1- 549.80 màu trắng do Nguyễn Văn L giao nộp, tất cả các vật chứng trên chuyển chi cục Thi hành án dân sự huyện Kỳ Anh, để xử lý theo quy định của pháp luật.
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng.
Tại bản Cáo trạng số 04/CT- VKSKA ngày 26 tháng 01 năm 2021, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L từ 15 đến 18 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/12/2020.
Áp dụng điểm a, điểm c Khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 0,3223 gam Heroine (số lượng còn lại sau khi lấy mẫu giám định); 01 gói thuốc lá nhãn hiệu Seabire (đã bóc võ sử dụng); Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước ½ trị giá chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA Sirius mang BKS 38K1- 549.80 màu trắng; trả lại cho chị Hoàng Thị T ½ trị giá chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA Sirius mang BKS 38K1- 549.80 màu trắng.
Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Điều 6; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 -12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Danh mục án phí, lệ phí Toà án kèm theo, xử buộc bị cáo phải nộp 200.000đ án phí Hình sự sơ thẩm.
Bị cáo không tranh luận với quan điểm của Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có điều kiện trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan CSĐT Công an huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, người chứng kiến không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Chứng cứ: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, kết luận giám định, lời khai người có quyền, nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Vào khoảng 09h 00 ngày 25/12/2020, Nguyễn Văn L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Surius, mang BKS 38K1- 549.80 đi từ nhà thuộc Thôn W, xã H, huyện K vào chợ Đồng Lê thuộc thị trấn ĐL, huyện TH, tỉnh Quảng Bình gặp và đưa cho một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) mà trước đây L thường mua ma túy 500.000 đồng để mua ma túy về sử dụng sau đó được người này đưa cho L một gói giấy bạc bên trong có chứa 0,3535 gam ma túy là Heroine, nhận ma túy xong L đi về nhà. Đến 13h30‟ cùng ngày khi về đến cổng nhà thì bị lực lượng Công an huyện Kỳ Anh bắt quả tang.
Hành vi của Nguyễn Văn L đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Trong vụ án này bị cáo Nguyễn Văn L thực hiện hành vi phạm tội một mình, không có đồng phạm.
. Tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Nguyễn Văn L là đối tượng không có nghề nghiệp ổn định có lối sống buông thả, ăn chơi, không chịu khó làm ăn, mặc dù đã có nhân thân xấu: Ngày 09/5/2013, bị Toàn án nhân dân huyện Kỳ Anh xử phạt 24 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Bản án số 25/ 2013/HSST. Ngày 09/8/2014, bị cáo chấp hành xong án phạt tù trở về địa phương, nhưng bị cáo không lấy những năm tháng cải tạo đó làm bài học để cải tạo mình và cai nghiện ma tuý mà lại tiếp tục phạm tội tàng trữ trái phép chất ma tuý.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, coi thường kỷ cương pháp luật Nhà nước. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt bị cáo một mức hình phạt tương xứng với tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng để xem xét khi quyết định hình phạt cho bị cáo, nhưng dù xem xét đến đâu thì cũng cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định.
. Về hình phạt bổ sung: Theo quy đình tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ đến 500.000.000đ, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm”, do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do, không có nghề nghiệp ổn định, điều kiện kinh tế khó khăn, lại nghiện ma túy. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
. Trong vụ án này Nguyễn Văn L khai nhận được một người đàn ông ở chợ ĐL thuộc thị trấn ĐL, huyện TH, tỉnh Quảng Bình bán cho số ma túy nói trên, nhưng quá trình điều tra không xác minh được người này là ai, địa chỉ ở đâu nên không đủ căn cứ để kết luận;
Đối với việc Nguyễn Văn L sử dụng chiếc xe mô tô nhãn hiệu Surius, mang BKS 38K1- 549.80 trong giấy đăng ký mang tên chị Hoàng Thị T để đi mua ma túy, tuy nhiên thời điểm L lấy xe chị T không có mặt ở nhà, L cũng không nói cho chị T biết việc sử dụng xe để đi mua ma túy nên không đủ cơ sở để kết luận.
. Vật chứng vụ án: Trong quá trình điều tra cơ quan CSĐT Công an huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh thu giữ và trả lại cho chủ sở hữu 480.000 đồng tiền Việt Nam đang có giá trị lưu hành; 01 giấy phép lái xe hạng A1 số 420113060261 mang tên Nguyễn Văn L, nên Hội đồng xét xử miễn xét.
Hiện nay còn lại các vật chứng sau: 0,3223 gam Heroine được niêm phong trong một phong bì thư (số lượng còn lại sau khi lấy mẫu giám định); 01 gói thuốc lá nhãn hiệu Seabire (đã bóc võ sử dụng), đều thu trên người Nguyễn Văn L; 01 chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA Sirius mang BKS 38K1- 549.80 màu trắng
Hội đồng xét xử xét thấy 0,3223 gam Heroine là hàng cấm tàng trữ, lưu hành; chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA Sirius mang BKS 38K1- 549.80 màu trắng là công cụ, phương tiện phạm tội của bị cáo, 01 gói thuốc lá nhãn hiệu Seabire hiện không còn giá trị sử dụng, đối với 01 xe máy nhãn hiệu YAMAHA Sirius mang BKS 38K1- 549.80 màu trắng là tài sản chung của vợ chồng Nguyễn Văn L và chị Hoàng Thị T, vì vậy tịch thu tiêu huỷ 0,3223 gam Heroine(số lượng còn lại sau khi lấy mẫu giám định); 01 gói thuốc lá nhãn hiệu Seabire (đã bóc võ sử dụng); tịch thu nộp ngân sách Nhà nước ½ trị giá chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA Sirius mang BKS 38K1- 549.80 màu trắng; trả lại cho chị Hoàng Thị T ½ trị giá chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA Sirius mang BKS 38K1- 549.80 màu trắng theo quy định tại điểm a, điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.
. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
. Về quyền kháng cáo: Những người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Điểm a, điểm c Khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.
Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự;
Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Điều 6; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 -12- 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Danh mục án phí, lệ phí Toà án kèm theo;
Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”
Xử phạt Nguyễn Văn L 13 (Mười ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/12/2020.
Về vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu huỷ 0,3223 gam Heroine (số lượng còn lại sau khi lấy mẫu giám định); 01 gói thuốc lá nhãn hiệu Seabire (đã bóc võ sử dụng); Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước ½ trị giá chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA Sirius mang BKS 38K1- 549.80 màu trắng; trả lại cho chị Hoàng Thị T ½ trị giá chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA Sirius mang BKS 38K1- 549.80 màu trắng.
Về án phí: Xử buộc Nguyễn Văn L phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm
Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Văn L, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Hoàng Thị T có quyền kháng cáo lên Tòa án cấp trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Phòng GĐKT ; - VKSND tỉnh Hà Tĩnh; - Phòng PC10; - Sở Tư pháp; - Trại tạm giam; - CA huyện Kỳ Anh; - VKSND huyện Kỳ Anh; - THA dân sự; - THA hình sự; - Những người TGTT; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Xuân Hoàng |