- Tranh chấp gì? án hình sự — "vụ án ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Thái Kế B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BĐ BBản án số: 11/2021/HSST Ngày: 02/11/2021 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HN, TỈNH BĐ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Vương
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Xuân Thành
Ông Nguyễn Hữu Tố
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc - Thư ký của Toà án nhân dân thị xã HN.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã HN tham gia phiên tòa: Ông Hồ Nhật Nam -Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 11 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã HN, tỉnh BĐ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 01/2021/HSST ngày 01/10/2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2021/QĐXXST-HS ngày 19/10/2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Thái Kế B, sinh năm 2001 tại tỉnh BĐ; Nơi đăng ký HKTT: Khu phố 3, phường BS, thị xã HN, tỉnh BĐ; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 6/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Thái Kế S, sinh năm 1969 và bà Trần Thị D(chết); Anh ruột: Thái Kế L, sinh năm 1996, Chị ruột Thái Thị Bích H, sinh năm 1998, Em ruột Thái Kế G, sinh năm 2006; Vợ con: Chưa có;Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/4/2021 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng:
1. Đào Duy T, sinh năm 1999(CM)
Địa chỉ: Khu phố BC, phường HĐ, thị xã HN, tỉnh BĐ
2. Nguyễn Văn M, sinh năm 1990(VM)
Địa chỉ: Khu phố ĐĐ, phường HT thị xã HN, tỉnh BĐ
3. Nguyễn Văn H, sinh năm 1988(VM)
Địa chỉ: Khu phố ĐĐ, phường HT thị xã HN, tỉnh BĐ
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 00giờ 30phút ngày 08/02/2021, Thái Kế B cầm 02 gói ma túy cùng với Nguyễn Văn M và Nguyễn Văn H đến quán Karaoke Dubai ở Khu phố PĐ, Phường BS, Thị xã HN để cùng nhau sử dụng. Khi đến nơi, đang chờ sắp xếp phòng thì cả 3 gặp Đào Duy T, trú tại Khu phố 3, Phường BS đi từ phòng 302 ra. B cho T biết là có ma túy và đang đợi sắp xếp phòng. Lúc này Hồ Đức T, ở Khu phố 1, Phường BS cũng từ P302 ra, nhìn thấy nên đã rủ B, M, H cùng vào phòng 302 chơi. Tại đây, B, M, H được Phan Tấn K, sinh năm 2002 ở Khu phố TT, Thị trấn TBH huyện HA đưa ma túy cho sử dụng. Đến 01 giờ 30 phút ngày 08/02/2021 Công an thị xã HN tiến hành kiểm tra Phòng 302 thì B vứt 02 gói ma túy đang mang trong người vào góc phòng 302, tại vị trí nên gạch phía bên phải màn hình tivi. Cơ quan điều tra đã thu giữ được hai gói ma túy này của B.
Theo Kết luận giám định số 44/PC09 ngày 09/02/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh BĐ kết luận: “chất bộ màu trắng đựng bên trong hai gói nilon có kích thước (7,5x4)cm, được kít nhựa lại, ghi thu tại phòng 302, tầng 03 cơ sở Karaoke DuBai gửi giám định là ma túy, có khối lượng 2,1049 gam Ketamine”.
Về nguồn gốc số ma túy mà bị cáo có được do một người bạn tên K khoảng 20 tuổi ở thành phố QN, BĐ cho. Hiện chưa xác định được họ tên địa chỉ, nên Cơ quan điều tra đang tiếp tục xác minh làm rõ.
Về vật chứng: Trong quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an thị xã HN đã tạm giữ: 02 gói nilon màu trắng, kích thước (7,5x4)cm, được kít nhựa lại, bên trong có chất bột màu trắng nghi là ma túy. Hiện đang do Chi cục Thi hành án dân sự Thị xã HN tạm giữ được ghi nhận ngày 13/10/2021 là: “01(một) phong bì có dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh BĐ bên ngoài có ghi: Gói nilon đựng mẫu vật và 1,7611 gam mẫu A2 còn lại sau giám định”.
Tại bản cáo trạng số 75/CT-VKS ngày 30/9/2021 Viện kiểm sát nhân dân thị xã HN tỉnh BĐ truy tố bị cáo Thái Kế B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm g khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự và sau khi phân tích nội dung, tính chất vụ án, luận tội, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã HN giữ nguyên toàn bộ nội dung bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm g khoản 1 Điều 249; Điều 38, Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Thái Kế B từ 12 tháng đến 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu hủy: 01(một) phong bì có dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh BĐ bên ngoài có ghi: “ Gói nilon đựng mẫu vật và 1,7611 gam mẫu A2 còn lại sau giám định”.
Tại phiên tòa, bị cáo Thái Kế B đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã HN đã truy tố, không bào chữa thêm.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo thừa nhận hành vi của bản thân đã sai, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm của mình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã HN, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã HN, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh và điều luật áp dụng:
Tại phiên tòa bị cáo Thái Kế B khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, lời khai của bị cáo phù hợp với chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Vào lúc 00 giờ 30 phút ngày 08/02/2021, Thái Kế B đã tàng trữ 02 gói ma túy loại Ketamine và rủ Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn M cùng đến quán Karaoke DuBai ở Khu phố PĐ Phường BS Thị xã HN để cùng nhau sử dụng. Tuy nhiên, chưa sử dụng được 02 gói ma túy thì đã bị Công an thị xã HN phát hiện bắt giữ.
Theo Kết luận giám định số 44/PC09 ngày 09/02/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh BĐ kết luận: “chất bộ màu trắng đựng bên trong hai gói nilon có kích thước (7,5x4)cm, được kít nhựa lại, ghi thu tại phòng 302, tầng 03 cơ sở Karaoke DuBai gửi giám định là ma túy, có khối lượng 2,1049 gam ketamine”.
Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thị xã HN tỉnh BĐ truy tố bị cáo Thái Kế B về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm g khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ.
Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo Thái Kế B là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý và chất gây nghiện khác, xâm phạm trật tự, an toàn xã hội, là tác nhân làm gia tăng các tệ nạn về ma tuý và các loại tội phạm khác trên địa bàn thị xã HN. Ma túy với một tác hại khôn lường, do sức tàn phá của nó, chính vì vậy mà Nhà nước và cả cộng đồng xã hội cương quyết bài trừ. Bị cáo nhận thức được điều này, song vì bản tính ham chơi, đua đòi nên vẫn cố tình phạm tội. Do đó,cần phải áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc, cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe giáo dục riêng và phòng ngừa chung nhằm hạn chế các loại tội phạm khác trên địa bàn thị xã HN.
Về nhân thân và tiền án, tiền sự, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Thái Kế B không có tiền án, tiền sự. Trong quá trình truy tố, xét xử, bị cáo đã thành khẩn khai báo ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình Sự. Đồng thời, hoàn cảnh gia đình bị cáo là hộ cận nghèo, mẹ bị cáo vừa mới qua đời do cuộc sống quá khó khăn. Đây là những yếu tố cần xem xét để quyết định hình phạt khi giải quyết vụ án.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu hủy: 01(một) phong bì có dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh BĐ bên ngoài có ghi: “ Gói nilon đựng mẫu vật và 1,7611 gam mẫu A2 còn lại sau giám định”.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã HN tỉnh BĐ về mức hình phạt cho bị cáo Thái Kế B:
Xử phạt bị cáo Thái Kế Bình từ 12 tháng đến 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là tương xứng với tính chất và hành vi của bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01(một) phong bì có dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh BĐ bên ngoài có ghi: “Gói nilon đựng mẫu vật và 1,7611 gam mẫu A2 còn lại sau giám định”.
Về án phí: Bị cáo là đối tượng hộ cận nghèo theo quy định của Chính phủ. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án, bị cáo B được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm g khoản 1 Điều 249; Điều 38, Điểm s khoản 1 Điều 51, Bộ luật hình sự; khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố: Bị cáo Thái Kế B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Thái Kế B 12 tháng tù về tội “Tàng Trữ trái phép chất chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 25/4/2021.
2. Về xử lý vật chứng:
Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu hủy: 01(một) phong bì có dấu giáp lai của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh BĐ bên ngoài có ghi: “ Gói nilon đựng mẫu vật và 1,7611 gam mẫu A2 còn lại sau giám định”.
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo B được miễn nộp
Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh BĐ; - VKSND Tx. HN; - Chi cục THADS Tx. HN; - CQ CSĐT CA Tx. HN; - Đội ĐTTH CA Tx. HN; - Đương sự; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà Nguyễn Thanh Vƣơng |