- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lý văn N - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN YÊN TỈNH YÊN BÁI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 11/2021/HS-ST Ngày: 04/03/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN YÊN, TỈNH YÊN BÁI.
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Chu Thị Thoảng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Hoài Sơn
2. Bà Trần Thị Bích Huề
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Minh Tuấn – Thư ký Toà án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái: Bà Đỗ Thị Bích Ngọc – Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 03 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 09/2021/TLST-HS ngày 28 tháng 01 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2021/QĐXXST-HS ngày 22/02/2021 đối với bị cáo:
Lý Văn N (tên gọi khác: Không), sinh ngày 07/7/1977. Tại huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái.
Nơi cư trú: Thôn T, xã An Bình, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Không biết chữ; Dân tộc: Dao; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Phú B (đã chết) và bà Bùi Thị L. Bị cáo có vợ là Bàn Thị H sinh năm 1980 và 02 con. Con lớn sinh năm 1996, con nhỏ sinh năm 2002. Hiện vợ con trú tại: Thôn T, xã An Bình, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt ngày 04/11/2020 – Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái - Có mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Chị Bàn Thị H, địa chỉ: Thôn T, xã An Bình, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái – Có mặt.
- Anh Nguyễn Mạnh T, địa chỉ: Thôn T, xã An Bình, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái – Vắng mặt.
* Người tham gia tố tụng khác:
- Người chứng kiến:
Anh Nguyễn Văn D, địa chỉ: Thôn L, xã Lâm Giang, huyện Văn Yên, tỉnh
Yên Bái – Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 20 phút ngày 04/11/2020, tổ công tác của Công an huyện Văn Yên phối hợp với Công an xã An Bình làm nhiệm vụ tại khu vực thôn T, xã An Bình, huyện Văn Yên phát hiện Lý Văn N có biểu hiện nghi tàng trữ trái phép chất ma túy nên đã yêu cầu N dừng lại để kiểm tra. Trước sự chứng kiến của chính quyền địa phương và người chứng kiến là anh Nguyễn Văn D và anh Triệu Bảo K. Tổ công tác phát hiện tại mặt đất nơi N đang đứng 01 gói giấy màu trắng, mở ra bên trong có 02 gói giấy bạc một mặt màu trắng, một mặt màu vàng, bên trong đều chứa chất bột nén màu trắng (N khai nhận đó là ma túy N mua để sử dụng và vừa thả từ lòng bàn tay phải xuống đất). Thu giữ tại túi áo khoác phía trước bên phải N đang mặc 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel vỏ máy màu đỏ đen, bàn phím nổi, màn hình màu. Thu giữ 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade màu đỏ đen biển kiểm soát 21E1-296... Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng. Cùng ngày, Cơ quan điều tra thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lý Văn N ở thôn T, xã An Bình, huyện Văn Yên. Kết quả khám xét không thu giữ được đồ vật, tài sản gì có liên quan đến vụ án.
* Tại bản kết luận giám định số 180/GĐMT ngày 11/11/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Yên Bái, kết luận:“Chất bột nén màu trắng thu giữ khi bắt quả tang Lý Văn N có tổng khối lượng là 0,4 gam (Không phẩy bốn gam). 0,08 gam trích từ 0,4 gam chất bột nén màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Heroine. Heroine nằm trong Danh mục I, STT 9, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính Phủ.”
Tại Cơ quan điều tra Lý Văn N khai nhận: Do nghiện ma túy từ năm 2019 nên khoảng 17giờ ngày 04/11/2020 N gọi điện thoại cho Nguyễn Mạnh T, trú tại thôn H, xã An Bình, huyện Văn Yên hỏi: “Ông có ở lán không cháu vào nhé”. T trả lời: “Có, đang ở lán đây”. Sau đó N điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 21E1-296.. đến lán của T tại thôn R, xã An Bình, huyện Văn Yên hỏi và mua được của T 01 gói ma túy được gói bằng giấy bạc một mặt màu trắng, một mặt màu vàng với giá 500.000 đồng. N cầm gói ma túy trên đường về N dùng móng tay chia nhỏ thành hai phần, gói lại vào 02 mảnh giấy bạc rồi N nhặt một mảnh giấy trắng ở đường gói hai gói ma túy lại. Sau đó, N tiếp tục điều khiển xe đi về. Khi về đến thôn T, xã An Bình, huyện Văn Yên N dừng xe đi vệ sinh thì bị Công an huyện Văn Yên phát hiện nên N đã thả gói ma túy từ lòng bàn tay phải xuống đất nơi N đang đứng.
Về vật chứng của vụ án đã thu giữ, được xử lý như sau: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade màu đỏ đen, biển kiểm soát 21E1-296.. kết quả điều tra xác định đây là tài sản hợp pháp của gia đình bị can Lý Văn N không liên quan đến hành vi phạm tội. Cơ quan điều tra đã xử lý trao trả lại chiếc xe trên cho chị Bàn Thị H, sinh năm 1978, trú tại: thôn T, xã An Bình, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái. Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Mastel kết quả điều tra xác định đây là tài sản hợp pháp của bị can N; 0,32 gam Heroine được niêm phong trong phong bì thư do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái trả lại sau khi đã trích mẫu giám định chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Văn Yên để tiến hành tố tụng.
Tại bản cáo trạng số: 09/CT-VKS-VY ngày 28/01/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Yên đã truy tố Lý Văn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Yên giữ quyền công tố luận tội và tranh luận vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lý Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1; 2 điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù. Bị cáo không có tài sản và thu nhập không ổn định nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Áp dụng khoản 1 điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trả lại cho bị cáo Lý Văn N: 01 điện thoại di động mang nhãn hiệu MASSTEL, vỏ máy màu đỏ, bàn phím nổi, màn hình màu, máy cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra chi tiết máy bên trong.
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì do phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái phát hành: Mặt trước phong bì ghi: “Vật chứng thu giữ khi bắt quả tang Lý Văn N – SN 1977 – Tàng trữ trái phép chất ma túy xảy ra tại thôn T, xã An Bình, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái ngày 04/11/2020 (Sau khi trích mẫu giám định). Mặt sau phong bì các mép được dán kín có chữ ký, họ tên của Nguyễn Đức P; Đỗ Đức Q; Nguyễn Công T; Lê Vũ L và 04 hình dấu tròn đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái.
Về án phí: Áp dụng điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016. Bị cáo phải chịu án phí HSST.
Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an và Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái. Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo; người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Quá trình hỏi và tranh luận tại phiên tòa bị cáo đã khai: Do nghiện ma túy từ năm 2019 nên khoảng 17giờ ngày 04/11/2020 N gọi điện thoại cho Nguyễn Mạnh T, trú tại thôn H, xã An Bình, huyện Văn Yên hỏi: “ Ông có ở lán không cháu vào nhé ”. T trả lời: “ Có, đang ở lán đây ”. Sau đó N điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 21E1-296.. đến lán của T tại thôn R, xã An Bình, huyện Văn Yên hỏi và mua được của T 01 gói ma túy được gói bằng giấy bạc một mặt màu trắng, một mặt màu vàng với giá 500.000 đồng. N cầm gói ma túy trên đường về N dùng móng tay chia nhỏ thành hai phần, gói lại vào 02 mảnh giấy bạc rồi N nhặt một mảnh giấy trắng ở đường gói hai gói ma túy lại. Sau đó, N tiếp tục điều khiển xe đi về. Khoảng 18 giờ 20 phút ngày 04/11/2020, tại thôn T, xã An Bình, huyện Văn Yên, Lý Văn N đang thực hiện hành vi tàng trữ trái phép trên người 02 gói Heroine, có khối lượng 0,4 gam mục đích để sử dụng, thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Văn Yên bắt quả tang thu giữ. Hành vi của bị cáo Lý Văn N đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật Hình sự. Do đó cáo trạng số: 09/CT-VKS-VY ngày 28/01/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái đã truy tố bị cáo là có căn cứ đúng người, đúng tội và được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Về hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi ma tuý là chất gây nghiện làm tổn hại sức khoẻ của con người, ảnh hưởng đến sự phát triển giống nòi và còn là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác. Chính vì vậy pháp luật nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán, sử dụng trái phép chất ma tuý. Nhưng với mục đích để sử dụng cho bản thân bị cáo đã mua, tàng trữ chất ma tuý. Hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Do vậy cần phải đưa bị cáo ra xử lý bằng pháp luật để răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm nói chung.
[4] Về nhân thân: Bị cáo là người có sức khoẻ, có đủ năng lực để nhận thức mọi hành vi hoạt động của bản thân. Bị cáo hiểu rõ tác hại của ma tuý đối với sức khỏe của con người. Nhưng không chịu tu dưỡng rèn luyện bản thân mà lao vào con đường nghiện chất ma túy và phạm tội. Đây thể hiện sự coi thường pháp luật, ý thức rèn luyện bản thân của bị cáo là rất kém. Vì vậy cần xử phạt bị cáo một hình phạt thỏa đáng tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm. Cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo thành người có ích cho xã hội và đáp ứng được yêu cầu đấu tranh với tội phạm ma tuý trong giai đoạn hiện nay.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra vụ án và tại phiên toà hôm nay bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo. Do vậy cần cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự. Mẹ đẻ bị cáo là bà Bùi Thị L được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng 3. Do vậy cần cho bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Để giảm hình phạt cho bị cáo thể hiện chính sách hình sự nhân đạo của Đảng và Nhà nước ta.
[6] Về nguồn gốc số ma túy thu giữ của N, căn cứ lời khai của N, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Văn Yên đã thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Mạnh T ở thôn R, xã An Bình, huyện Văn Yên. Kết quả khám xét thu giữ tại giường ngủ của T có 03 mảnh giấy bạc đã bị cháy xém. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Văn Yên đã triệu tập T làm việc và đối chất giữa bị can N và T, tiến hành xác minh làm rõ nhưng chưa đủ căn cứ chứng minh hành vi phạm tội của T. Quá trình điều tra xác định T là người nghiện ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Văn Yên đã đề nghị Ủy ban nhân dân xã An Bình, huyện Văn Yên áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn.
[7] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 điều 249 Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng ...”. Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo không có tài sản và không có nghề nghiệp thu nhập ổn định. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[8] Về vật chứng của vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Trả lại cho bị cáo Lý Văn N: 01 điện thoại di động mang nhãn hiệu MASSTEL, vỏ máy màu đỏ, bàn phím nổi, màn hình màu, máy cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra chi tiết máy bên trong.
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì do phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái phát hành: Mặt trước phong bì ghi: “Vật chứng thu giữ khi bắt quả tang Lý Văn N – SN 1977 – Tàng trữ trái phép chất ma túy xảy ra tại thôn T, xã An Bình, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái ngày 04/11/2020 (Sau khi trích mẫu giám định). Mặt sau phong bì các mép được dán kín có chữ ký, họ tên của Nguyễn Đức P; Đỗ Đức Q; Nguyễn Công T; Lê Vũ L và 04 hình dấu tròn đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái.
[9] Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật
[10] Bị cáo: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lý Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt và điều luật áp dụng:
Căn cứ điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1; 2 điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lý Văn N 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt 04/11/2020.
3. Về vật chứng vụ án: Căn cứ khoản 1 điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trả lại cho bị cáo Lý Văn N: 01 điện thoại di động mang nhãn hiệu MASSTEL, vỏ máy màu đỏ, bàn phím nổi, màn hình màu, máy cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra chi tiết máy bên trong.
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì do phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái phát hành: Mặt trước phong bì ghi: “Vật chứng thu giữ khi bắt quả tang Lý Văn N – SN 1977 – Tàng trữ trái phép chất ma túy xảy ra tại thôn T, xã An Bình, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái ngày 04/11/2020 (Sau khi trích mẫu giám định). Mặt sau phong bì các mép được dán kín có chữ ký, họ tên của Nguyễn Đức P; Đỗ Đức Q; Nguyễn Công T; Lê Vũ L và 04 hình dấu tròn đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái.
Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/2/2021 tại Chi cục thi hành án Dân sự huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái.
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016. Bị cáo phải chịu 200.000đồng tiền án phí HSST.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo phần bản án có liên quan trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự. [
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Yên Bái; - Công an huyện Văn Yên; - VKSND huyện Văn Yên; - VKSND tỉnh Yên Bá;i - THADS huyện Văn Yên; - THA phạt tù. BC; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Nhà tạm giữ Công an huyện Văn Yên; - Lưu HS – TA. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Chu Thị Thoảng |