- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Năm - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Văn N (Năm Đô) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH TỈNH CÀ MAU ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 11/2021/HS-ST Ngày 29 - 4 - 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoài Hận
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trịnh Hữu Hiệp
Ông Nguyễn Hải Hưng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Như Ý, là Thư ký Toà án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện U Minh tham gia phiên tòa: Ông Trịnh Hữu Duy - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 4 năm 2021 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện U Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 09/2021/TLST-HS ngày 17 tháng 3 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2021/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 4 năm 2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Văn N, sinh năm 1986; Tên gọi khác: Năm Đô; Nơi sinh: xã Khánh Hội, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau; Nơi cư trú: Ấp 7, xã Khánh Hội, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn Nhứt (đã chết), con bà Cao Thị Tiến; bị cáo có vợ và 02 người con; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 18/11/2020 đến ngày 27/11/2020, sau đó được tại ngoại điều tra (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ 15 phút ngày 18 tháng 11 năm 2020, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện U Minh kết hợp với Công an thị trấn U Minh đến kiểm tra khu vực nhà nghỉ Khang Huy, tiến hành kiểm tra trên người Trần Văn N phát hiện trong túi quần nhỏ bên phải ở phía trước quần short jean có 03 bịch nilon nhỏ màu trắng có chứa tinh thể màu trắng, dạng rắn (nghi là ma túy đá) nên Cơ quan cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện U Minh tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong thu giữ vật chứng.
Kết luận giám định số 137/GĐMT-PC09 ngày 20/11/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sóc Trăng kết luận: Mẫu tinh thể rắn màu trắng được niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,2368 gam, loại Methamphetamine (Methamphetamine là chất ma túy có STT 323, Danh mục II, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính Phủ).
Vật chứng của vụ án: Mẫu hoàn lại 0,2108 gam tinh thể màu trắng còn lại sau giám định được niêm phong bằng giấy trắng trong phong bì màu trắng, bên ngoài có ghi Niêm phong vụ số 137/GĐMT-PC09, ngày 20 tháng 11 năm 2020, có chữ ký ghi họ tên của Giám định viên Phạm Thanh Trường Sơn, trợ lý giám định Phùng Thúy An, Cán bộ điều tra Võ Trường An và 02 (hai) hình dấu tròn đỏ của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Sóc Trăng.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận nội dung Cáo trạng nêu trên là đúng với hành vi của bị cáo, nhưng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm về với gia đình.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện U Minh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm c khoản 1, Điều 249 Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Xử phạt: Bị cáo Trần Văn N từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
Về tang vật: Tịch thu tiêu hủy vật chứng đã thu giữ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định cho bị cáo, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Vào khoảng 09 giờ 15 phút, ngày 18/11/2020 tại nhà nghỉ Khang Huy ngụ khóm 3, thị trấn U Minh, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau, bị cáo Trần Văn N đã có hành vi tàng trữ 0,2368 gam ma túy loại Methamphetamine. Hành vi của bị cáo Trần Văn N đã phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách của Nhà nước về quản lý các chất gây nghiện. Bản thân bị cáo cũng ý thức được tác hại của các chất ma túy ảnh hưởng đến sức khỏe, tinh thần, nhân cách của bị cáo và làm gián tiếp xảy ra các tệ nạn xã hội, nhưng bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Mặt khác, tình trạng sử dụng ma túy hiện nay ở cả nước nói chung và tại địa bàn huyện U Minh nói riêng đang diễn ra ngày càng trầm trọng và có nhiều vụ án đặc biệt nghiêm trọng mà nguyên nhân là do sử dụng ma túy khi thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần có một mức án tương xứng với hành vi mà bị cáo thực hiện và để phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Bị cáo không có tình tiết định khung tăng nặng theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng là trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ rõ sự ăn năn hối cải, bị cáo có nhân thân tốt, từ trước đến nay chưa có tiền án tiền sự, Bà nội và cha bị cáo có công với cách mạng, được tặng thưởng huân chương kháng chiến. Các tình tiết giảm nhẹ nêu trên được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, nên khi lượng hình cần xem xét tình tiết này để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
. Về vật chứng: Xét thấy, vật chứng thu giữ là vật liên quan đến việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.
. Xét đề nghị của Viện kiểm sát là có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Tuyên bố bị cáo Trần Văn N (Năm Đô) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về trách nhiệm hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Văn N 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án, nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 18/11/2020 đến ngày 27/11/2020.
3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,2108 gam tinh thể màu trắng còn lại sau giám định được niêm phong bằng giấy trắng trong phong bì màu trắng, bên ngoài có ghi Niêm phong vụ số 137/GĐMT-PC09, ngày 20 tháng 11 năm 2020, có chữ ký ghi họ tên của Giám định viên Phạm Thanh Trường Sơn, trợ lý giám định Phùng Thúy An, Cán bộ điều tra Võ Trường An và 02 (hai) hình dấu tròn đỏ của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Sóc Trăng.
4. Về án phí: Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo Trần Văn N phải chịu 200.000 đồng.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau; - Viện kiểm sát tỉnh Cà Mau; - Viện kiểm sát huyện U Minh, tỉnh Cà Mau; - Công an huyện U Minh, tỉnh Cà Mau; - Trại tạm Giam, Thi hành án; - Sở Tư pháp tỉnh Cà Mau; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ, văn thư. | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Hoài Hận |