- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình Sự - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Huy B phạm tội” Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỊNH BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 11/2021/HS-ST Ngày: 27 - 5 - 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỊNH BIÊN, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Văn Khánh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Thanh Hải
2. Ông Trần Thanh Hoàng.
Thư ký phiên toà: Ông Đặng Văn Việt – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Đặng Phương Nam - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 5 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tịnh Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 09/2021/TLST- HS ngày 22 tháng 4 năm 2021 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2021/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2021 đối với bị cáo.
Nguyễn Huy B, sinh năm 1995, nơi sinh: Tri Tôn – An Giang; nơi cư trú: Tổ 10, khóm II, thị trấn T, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Đạo Phật; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Duy Kh, sinh năm 1962 và bà Huỳnh Thị D, sinh năm 1963, vợ Bùi Thị Th, sinh năm 1996; con Bùi Duy K, sinh năm 2015, anh, em ruột có 03 người, bị cáo là người nhỏ nhất .
Tiền sự: Ngày 28/11/2018, bị Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 18 tháng đến ngày 07/01/2020, chấp hành xong.
Tiền sự: Chưa.
Bị cáo Nguyễn Huy B bị tạm giam từ ngày 15/01/2021 cho đến nay, tại nhà tạm giữ - Công an huyện Tịnh Biên.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Bà Huỳnh Thị D, sinh năm 1963,
Nơi cư trú: Tổ 10, khóm II, thị trấn T, huyện Tri Tôn, An Giang.
Người làm chứng:
Chị Lê Thị Diệu H, sinh năm 1988,
Nơi cư trú: Tổ 11, khóm H, thị trấn N, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang.
(Bị cáo B, bà D có mặt, bà H vắng mặt)
NỘI D VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội D vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ 40 ngày 15/01/2021, Đội cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế - ma túy Công an huyện Tịnh Biên phối hợp với Công an thị trấn Nhà Bàng tuần tra kiểm soát trên địa bàn thị trấn Nhà Bàng. Khi đến khu vực tổ 05, khóm Hòa Thuận, thị trấn Nhà Bàng, huyện Tịnh Biên phát hiện Nguyễn Huy B điều khiển xe mô tô biển số: 67F1- 512.51 có biểu hiện nghi vấn, nên tiến hành kiểm tra phát hiện phía trước rổ xe mô tô do B điều khiển có 01 vỏ bao thuốc lá hiệu Hero, bên trong có 01 bọc nylon trong suốt, một đầu có rãnh khóa viền màu đỏ, đựng 19 đoạn ông hút nhựa màu trắng hàn kín, bên trong có chứa chất bột màu trắng; 01 đoạn ống hút nhựa, trong suốt sọc trắng hàn kín và một bọc nylon trong suốt hàn kín bên trong chứa tinh thể rắn màu trắng . Qua làm việc B khai nhận là heroine và ma túy đá mua của người phụ nữ tên Hai( không rõ họ,địa chỉ) tại thành phố Châu Đốc với giá 1.000.000 đồng để sử dụng, nên lực lượng Công an tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng.
Căn cứ biên bản kết luận giám định số: 16/KLGT-PC09(MT) ngày 20/01/2021 của Phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh An Giang kết luận:
- 19 đoạn ống hút nhựa màu trắng hàn kín, bên trong chứa chất bột màu trắng , khối lượng 0,4789g; ký hiệu M1.
- 01 đoạn ống hút nhựa trong suốt hàn kín, bên trong chưa tinh thể màu trắng, khối lượng 0,0163g; ký hiệu M2.
- 01bọc nylon trong suốt hàn kín, bên trong chưa tinh thể màu trắng, khối lượng 0,3239g; ký hiệu M3.
Mẫu M1 giám định là ma túy loại Heroine có khối lượng là 0,4789g.
Mẫu M2, M3 giám định là ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng là 0,3402g.
Ngày 22/01/2021 cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tịnh Biên đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với Nguyễn Huy B về hành vi (tội) “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Tại bản Cáo trạng số: 09/CT-VKSTB - HS ngày 22/4/2021 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tịnh Biên truy tố bị can Nguyễn Huy B về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tịnh Biên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về hình phạt chính: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Huy B mức án từ: 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
Về hình phạt bổ sung phạt tiền: Bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, thuộc thành phần lao động nghèo, nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Đối với:
- Người phụ nữ tên H và người đàn ông bán ma túy cho bị cáo Nguyễn Huy B do chưa xác định được họ, tên, năm sinh, địa chỉ và việc B, khai nhận ngoài lần bị phát hiện bắt quả tang, B còn 01 lần mua ma túy của H và nhiều lần mua ma túy người đàn ông tại chùa (bà) Núi Sam để sử dụng. Do chưa làm việc được và ngoài lời khai của B không có chứng cứ khác nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Tịnh Biên không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với B, người phụ nữ tên H và người đàn trên lần này và tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47, Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị:
- Tịch thu tiêu hủy vật chứng là ma túy còn lại sau giám định, gồm:
+ Mẫu M1 loại Heroine, khối lượng là 0,4339g.
+ Mẫu M2 đã sử dụng hết trong quá trình giám định.
+ Mẫu M3 loại Methamphetamine, khối lượng là 0,2793g.
+ 01 vỏ bao thuốc lá hiệu Hero.
+ 19 ống bơm kim tim, màu trắng vàng, có bao bì.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước phương tiện sử dụng vào việc phạm tội:
+ 01 điện thoại di động hiệu Redmi; có thẻ sim ( đã qua sử dụng).
+ 01 xe mô tô biển số: 67N1 – 512.51 loại xe Wava, màu xanh đen và giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy tên chủ xe Nguyễn Huy B.
Tại phiên tòa, bị cáo B khai nhận hành vị phạm tội như Cáo trạng đã truy tố, không có ý kiến tranh luận về quan điểm luận tội cũng như đề nghị giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa.
Bà Huỳnh Thị D là mẹ ruột của bị cáo B đề nghị xin nhận lại chiếc 01 xe mô tô biển số: 67N1 – 512.51 loại xe Wave bà cho rằng chiếc xe nói trên là bà mua lại từ người khác, do lớn tuổi, không có bằng lái xe mô tô nên giao cho B đứng tên giấy chứng nhận đăng ký xe; xe trên là phương tiện đi lại hằng ngày của gia đình, B lấy xe mô tô sử dụng vào mục đích vi phạm pháp luật bà không biết, nay bà yêu cầu được nhận lại .
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội D vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án, được tranh tụng tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng:
Tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Tịnh Biên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tịnh Biên, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục, quy định của bộ luật tố tụng hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tòa án đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập tham gia phiên tòa, những người làm chứng chị Lê Thị Diệu H vắng mặt nhưng đã có lời khai trong quá trình điều tra, không gây trở ngại cho việc xét xử, do đó Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về nội D
Hành vi phạm tội:
Tại phiên Tòa hôm nay bị cáo Nguyễn Huy B đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như Cáo trạng đã truy tố, lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng được chứng minh bằng biên bản bắt người phạm tội quả tang, bằng vật chứng thu giữ của bị cáo qua giám định là ma túy loại Heroine có khối lượng là 0,4789g và loại Methamphetamine có khối lượng là 0,3402g cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sơ kết luận: Bị cáo Nguyễn Huy B phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội danh và hình phạt quy định tại i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Viện kiểm sát nhân dân huyện Tịnh Biên truy tố bị cáo về tội danh và Điều luật nêu trên là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện coi thường pháp luật xâm phạm sự quản lý của Nhà nước về các chất ma túy gây ảnh hưởng xấu an ninh trật tự tại địa phương, gây bất B trong dư luận quần chúng. Bị cáo từng bị Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời giang 18 tháng do sử dụng trái phép chất ma túy, đã chấp hành xong ngày 07/01/2020, ma túy là chất gây nghiện làm hủy hoại sức khỏe con người, đồng thời hành vi của bị cáo đã tiếp tay cho những kẻ mua bán ma túy, do đó cần áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi vi phạm tội của bị cáo gây ra, đảm bảo mục đích răn đe riêng và phòng ngừa chung.
Xét về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo thì thấy:
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên Tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội lần đầu nhân thân chưa có tiền án, lượng ma túy bị cáo tàng trữ không nhiều; vì vậy, Hội đồng xét xử xem xét cho được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào nhân thân của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và xét đề nghị của kiểm sát viên, trên cơ sở cân nhắc đầy đủ và toàn diện tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội, hành vi phạm tội của bị cáo Hội đồng xét xử thấy: Cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục răn đe bị cáo và phòng ngừa chung.
+ Về hình phạt bổ sung phạt tiền: Bị cáo không có nghề nghiệp, thuộc thành phần lao động nghèo, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Vấn đề khác liên quan:
Đối với việc B khai nhận ngoài lần bị phát hiện bắt quả tang, B đã từng 01 lần mua ma túy của Hai và nhiều lần mua ma túy của người đàn ông tại chùa Bà Núi Sam để sử dụng. Do chưa làm việc được và ngoài lời khai của B không có chứng cứ khác nên HĐXX không xem xét trách nhiệm đối với bị cáo B những lần này.
Đối với người phụ nữ tên dì Hai và người đàn ông bán ma túy cho bị cáo B, Cơ quan điều tra không xác định được tên, tuổi, địa chỉ nên hội đồng xét xử không xem xét xử lý.
Đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh Thị D:
Trong quá trình điều tra, cũng như tại phiên tòa, bà cho rằng xe mô tô biển số: 67N1 – 512.51 là của bà mua cho B sử dụng, cho B đứng tên giấy chứng nhận xe, làm phương tiện đưa, rước con của B đi học; việc B xử dụng xe vào mục đích phạm tội, bà không biết, xin nhận lại chiếc xe.
Xét đề nghị của bà D, cũng như lời khai của bị cáo B tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử đã làm rõ chiếc xe mô tô biển số: 67N1 – 512.51 loại xe Wave nguồn tiền là của bà D mua cho B, giao cho B đứng tên chủ sở hữu giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy, đây là vụ việc dân sự, việc cho, tặng tài sản đã thực hiện xong, B là người đã trưởng thành, nhận thức rõ việc phạm tội, cũng như hậu quả của việc sử dụng phương tiện của mình vào việc phạm tội, cụ thể là là chiếc xe mô tô biển số 67N1 – 512.51. Do vậy đối với yêu cầu bà D xin nhận lại chiếc xe mô tô nói trên là không có căn cứ chấp nhận.
Về vật chứng:
Tịch thu sung quỹ Nhà nước phương tiện sử dụng vào việc phạm tội:
+ 01 điện thoại di động hiệu Redmi; có 02 thẻ sim số thuê bao 0325.693.598 và 0921.242.772.
+ 01 xe mô tô biển số: 67N1 – 512.51 loại xe Wava, màu xanh – đen – bạc, D tích 109,1 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy, số 055280 tên chủ xe Nguyễn Huy B. Đây là phương tiện mà B đã xử dụng vào việc phạm tội.
Tịch thu tiêu hủy vật chứng là ma túy còn lại sau giám định, dụng cụ sử dụng ma túy gồm:
+ Mẫu M1 loại Heroine, khối lượng là 0,4339g.
+ Mẫu M2 đã sử dụng hết trong quá trình giám định.
+ Mẫu M3 loại Methamphetamine, khối lượng là 0,2793g.
+ 01 vỏ bao thuốc lá hiệu Hero.
+ 19 ống bơm kim tim, mau trắng vàng, có bao bì.
Xét đề nghị của Kiểm sát viên, thực hiện quyền công tố tại phiên tòa, về mức hình phạt cũng như xử lý vật chứng cơ bản phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Huy B phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Huy B phạm tội” Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; Điều 38, điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt:
+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Huy B 01(một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/01/2021.
Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo việc thi hành án.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu sung quỹ Nhà nước phương tiện sử dụng vào việc phạm tội:
+ 01 xe mô tô biển số: 67N1 – 512.51 loại xe Wave, màu xanh – đen – bạc, D tích 109,1 và giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy, số 055280 tên chủ xe Nguyễn Huy B
+ 01 điện thoại di động hiệu Redmi có 02 thẻ sim số thuê bao 0325.693.598 và 0921.242.772.
Tịch thu tiêu hủy vật chứng là ma túy còn lại sau giám định, dụng cụ sử dụng ma túy gồm:
+ Mẫu M1 loại Heroine, khối lượng là 0,4339g.
+ Mẫu M3 loại Methamphetamine, khối lượng là 0,2793g.
+ 01 vỏ bao thuốc lá hiệu Hero.
+ 19 ống bơm kim tim, màu trắng vàng, có bao bì.
( Vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tịnh Biên, theo biên bản giao nhận vật chứng tài sản giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công An huyện Tịnh Biên và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tịnh Biên ngày 28/4/2021).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBNTQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Buộc bị cáo Nguyễn Huy B phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo B, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà D có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Viện KSND huyện Tịnh Biên (2); - Tòa án nhân dân tỉnh (1); - Sở Tư pháp (1); - Nhà Tạm giữ (2); - Phòng hồ sơ (1); - Chi cục THADS huyện Tịnh Biên (1); - Bộ phận THA Tòa án (1); - Bị cáo; - Lưu hồ sơ; - Lưu văn phòng (1). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà Mai Văn Khánh |