vanban.org

Bản án 11/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình Tuyên án 25/03/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L và Đỗ Thị T phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt Nguyễn Văn L 24 (hai mươi bốn) tháng Cải tạo không giam giữ, nhưng được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam trước từ ngày 27/8/2020 đến ngày 29/9/2020 là 34 ngày, quy đổi thành 102 ngày Cải tạo không giam giữ. Hình phạt bổ sung: Phạt tiền đối với Nguyễn Văn L số tiền 15.000.000 đồng (mười lăm tr… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn L và Đỗ Thị T - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L và Đỗ Thị T phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LỆ THỦY
TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2021/HS-ST
Ngày: 25 - 3 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỆ THỦY, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hải Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phan Văn Việt. 2. Ông Lê Quang Thạch.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuấn, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Trần Quang Hoàn - Kiểm sát viên.

Trong ngày 23 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 01/2021/HSST ngày 20 tháng 01 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2021/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 3 năm 2021 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Văn L, sinh ngày 27/11/1978 tại tỉnh Quảng Bình.

Nơi cư trú: Bản B, xã K, huyện L, tỉnh Quảng Bình; trình độ văn hóa: 3/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông: Nguyễn Văn T, sinh năm 1952 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1950; vợ Trần Thị C, sinh năm 1977; con có 04 con, lớn nhất sinh năm 1997, nhỏ nhất sinh năm 2009; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/8/2020 đến ngày 29/9/2020, được thay thế bằng biện pháp bảo lĩnh, đang tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

2. Đỗ Thị T, sinh ngày 10/9/1995 tại tỉnh Quảng Bình.

Nơi cư trú: Thôn T, xã M, huyện L, tỉnh Quảng Bình; trình độ văn hóa: 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Đỗ Đức D, sinh năm 1970; con bà Cái Thị T, sinh năm 1975; chồng Dương Công T, sinh năm 1994; có 02 con, lớn nhất sinh năm 2014, nhỏ nhất sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, đang tại ngoại có mặt tại phiên toà.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: 1. Chị Phan Thị D, sinh năm 1981. Nơi cư trú: Thôn L, xã M, huyện L, tỉnh Quảng Bình, có mặt. 2. Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1954. Nơi cư trú: Thôn C, xã M, huyện L, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt. 4. Chị Nguyễn Thị Hồng N, sinh năm 1990. Nơi cư trú: Thôn X, xã M, huyện L, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt. 5. Anh Bùi Đăng T, sinh năm 1986. Nơi cư trú: Thôn L, xã T, huyện L, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt. 6. Chị Trần Thị C, sinh năm 1977. Nơi cư trú: Bản B, xã K, huyện L, tỉnh Quảng Bình, có mặt. 7. Anh Phạm Văn T, sinh năm 1989. Nơi cư trú: Bản T, xã K, huyện L, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt. 8. Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1961. Nơi cư trú: Thôn M, xã M, huyện L, tỉnh Quảng Bình, có mặt. 9. Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1978. Nơi cư trú: Bản C, xã K, huyện L, tỉnh Quảng Bình, có mặt. 10. Anh Phạm Ngọc H, sinh năm 1986. Nơi cư trú: Thôn L, xã K, huyện L, tỉnh Quảng Bình, có mặt. 12. Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1983. Nơi cư trú: Bản B, xã K, huyện L, tỉnh Quảng Bình, có mặt. 13. Chị Hồ Thị M, sinh năm 1987. Nơi cư trú: Bản M, xã L, huyện L, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt. 14. Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1968. Nơi cư trú: Bản C, xã K, huyện L, tỉnh Quảng Bình, có mặt. 15. Chị Lê Thị N, sinh năm 1974. Nơi cư trú: Bản C, xã K, huyện L, tỉnh Quảng Bình, có mặt. 16. Anh Mai Văn N, sinh năm 1985. Nơi cư trú: Thôn M, xã T, huyện L, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt. 17. Anh Nguyễn Minh V, sinh năm 1978. Nơi cư trú: Thôn P, xã T, huyện L, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng đầu năm 2020, Nguyễn Văn L với vai trò là chủ số lô, số đề thỏa thuận với các thư ký về việc đánh bạc bằng hình thức mua bán số lô, số đề, thắng thua bằng tiền. Các thư ký đề hàng ngày trực tiếp bán số lô, số đề cho các con bạc là khách qua đường, đến cuối ngày các thư ký đề tổng hợp thành bảng đề và chuyển lại cho Nguyễn Văn L thông qua các ứng dụng mạng xã hội ZaLo, Facebook, Whatsapp hoặc gọi điện trực tiếp để đọc thông tin các số đánh, số tiền đánh, hình thức đánh cho Nguyễn Văn L ghi chép lại. Việc thành toán thắng thua vào ngày hôm sau, căn cứ kết quả mở thưởng xổ số trong ngày bán số, nếu bảng đề của thư ký nào có số dư thì thu tiền, bảng nào có số trúng bị âm tiền thì L trả tiền cho thư ký đề để họ thanh toán cho người mua đề. Các thư ký đề được hưởng 10% hoa hồng trên tổng số tiền đánh bạc ở bảng đề. Nguyễn Văn L đã tự nguyện giao nộp 02 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG cùng 14 bảng đề và khai nhận đó là tập hợp các bảng đề của 14 thư ký đề do lý viết lại sau khi nhận dữ liệu số đánh, số tiền đánh và hình thức đánh của các thư ký đề chuyển đến. L đã xóa hết dữ liệu nhận được, số thuê bao 0364.158.972 là của Nguyễn Văn L sử dụng để đăng ký tài khoản ứng dụng Whatsapp.

Cách thức đánh bạc với hình thức chơi số lô, số đề như sau: Lấy 02 hoặc 03 số cuối của các giải dựa theo kết quả mở thưởng xổ số kiến thiết Miền Trung - Tây Nguyên và Miền Bắc mở thưởng hàng ngày, quy định thành số lô, số đề. Người chơi tự chọn con số và đặt tiền mua số lô, số đề tùy ý. Căn cứ vào kết quả xổ số sẽ xác định được người trúng và thanh toán theo tỷ lệ:

* Đối với hình thức đánh dựa trên kết quả xổ số kiến thiết Miền Trung - Tây Nguyên:

+ 18 lô: Dựa trên 02 số cuối cùng của tất cả các giải, với tỷ lệ mua 1 thắng gấp 5 lần.

+ 17 lô: Dựa trên 03 số cuối cùng của tất cả các giải (trừ giải tám), với tỷ lệ mua 1 thắng gấp 35 lần.

+ 06 lô: Dựa trên 03 số cuối cùng của giải 5, giải 6, giải 7 và giải đặc biệt, với tỷ lệ mua 1 thắng gấp 100 lần.

+ 02 lô: Dựa trên 02 số cuối cùng của giải tám và giải đặc biệt, với tỷ lệ mua 1 thắng gấp 84 lần.

+ 01 lô (đặc biệt): Dựa trên 03 số cuối cùng của giải đặc biệt, với tỷ lệ mua 1 thắng gấp 600 lần.

* Đối với hình thức đánh dựa trên kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc:

+ Đặc biệt: Dựa trên 03 số cuối cùng của giải đặc biệt, với tỷ lệ mua 1 thắng gấp 600 lần.

+ 27 lô: Dựa trên 02 số cuối cùng của tất cả các giải , với tỷ lệ mua 1 thắng gấp 3,3 lần.

+ 23 lô: Dựa trên 03 số cuối cùng của tất cả các giải (trừ giải 7), với tỷ lệ mua 1 thắng gấp 26 lần.

+ 10 lô: Dựa trên 03 số cuối cùng của giải 5, 6 và giải đặc biệt, với tỷ lệ mua 1 thắng gấp 60 lần.

+ 04 lô: Dựa trên 03 số cuối cùng của giải 6 và giải đặc biệt, với tỷ lệ mua 1 thắng gấp 100 lần.

+ Lô xiên: Gồm có xiên 2, tỷ lệ mua 1 thắng gấp 10 lần; xiên 3, tỷ lệ mua 1 thắng gấp 35 lần. Người chơi xiên 2 thì phải đánh hai số lô, xiên 3 thì phải đánh ba số lô.

+ Đầu: Dựa trên 02 số cuối cùng của giải bảy, với tỷ lệ mua 1 thắng gấp 21 lần.

+ Đuôi: Dựa trên 02 số cuối của giải đặc biệt, với tỷ lệ mua 1 thắng gấp 84 lần.

Qua các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ thể hiện: Từ ngày 18/8/2020 đến ngày 26/8/2020, L đã đánh bạc với 14 đối tượng khác, cụ thể như sau:

- Ngày 18/8/2020, L đánh bạc với Nguyễn Thị Hồng N dựa trên kết quả xổ số Miền Trung với số tiền 1.660.000 đồng.

- Ngày 19/8/2020, L đánh bạc với Nguyễn Thị Hồng N dựa trên kết quả xổ số Miền Trung - Tây Nguyên với số tiền 4.950.000 đồng và Miền Bắc với số tiền 400.000 đồng.

- Ngày 20/8/2020, L đánh bạc với Nguyễn Thị Hồng N dựa trên kết quả xổ số Miền Trung với số tiền 2.300.000 đồng và Miền Bắc với số tiền 340.000 đồng.

- Ngày 21/8/2020, L đánh bạc với Nguyễn Thị Hồng N dựa trên kết quả xổ số Miền Trung - Tây Nguyên với số tiền 1.635.000 đồng.

- Ngày 22/8/2020, L đánh bạc với Nguyễn Thị Hồng N dựa trên kết quả xổ số Miền Trung - Tây Nguyên với số tiền 2.980.000 đồng.

- Ngày 23/8/2020, L đánh bạc với Nguyễn Thị Hồng N dựa trên kết quả xổ số Miền Trung - Tây Nguyên với số tiền 2.235.000 đồng và Miền Bắc với số tiền 200.000 đồng.

- Ngày 24/8/2020, L đánh bạc với Nguyễn Thị Hồng N dựa trên kết quả xổ số Miền Trung – Tây Nguyên với số tiền 2.515.000 đồng.

- Ngày 25/8/2020, L đánh bạc với Nguyễn Thị Hồng N dựa trên kết quả xổ số Miền Trung - Tây Nguyên với số tiền 1.415.000 đồng.

- Ngày 26/8/2020, L đánh bạc với với các đối tượng sau:

+ Đánh bạc với Đỗ Thị T dựa trên kết quả xổ số Miền Trung - Tây Nguyên với số tiền 13.090.000 đồng và Miền Bắc với số tiền 7.075.000 đồng.

+ Đánh bạc với Phan Thị D dựa trên kết quả xổ số Miền Trung - Tây Nguyên với số tiền 2.542.000 đồng và Miền Bắc với số tiền 2.580.000 đồng.

+ Đánh bạc với Nguyễn Thị L dựa trên kết quả xổ số Miền Trung - Tây Nguyên với số tiền 300.000 đồng.

+ Đánh bạc với Mai Văn N dựa trên kết quả xổ số Miền Trung - Tây Nguyên với số tiền 1.610.000 đồng và Miền Bắc với số tiền 316.000 đồng.

+ Đánh bạc với Nguyễn Thị Hồng N dựa trên kết quả xổ số Miền Trung với số tiền 2.480.000 đồng.

+ Đánh bạc với Bùi Đăng Ti dựa trên kết quả xổ số Miền Trung - Tây Nguyên với số tiền 1.620.000 đồng.

Tổng cộng, ngày 26/8/2020, Nguyễn Văn L đánh bạc với Đỗ Thị T, Nguyễn Thị Hồng N, Phan Thị D, Nguyễn Thị L, Mai Văn N và Bùi Đăng T dựa trên kết quả số xố miền Trung - Tây Nguyên là 21.642.000 đồng, dựa trên kết quả sổ xố Miền Bắc là 9.971.000 đồng.

Đỗ Thị T đánh bạc với Nguyễn Văn L thông qua hình thức số lô, số đề trong ngày 26/8/2020 với tổng số tiền đánh là: 20.165.000 đồng (trong đó Đánh bạc dựa trên kết quả xổ số Miền Trung - Tây Nguyên với số tiền 13.090.000 đồng và Miền Bắc với số tiền 7.075.000 đồng).

Ngoài những lần đánh bạc được kết luận nêu trên, L còn khai nhận đã đánh bạc với Nguyễn Văn L, sinh năm 1961, trú tại thôn M, xã T, huyện L, tỉnh Quảng Bình, cụ thể:

Ngày 25/8/2020, đánh bạc dựa trên kết quả xổ số Quảng Nam với tổng số tiền đánh bạc là 6.600.000 đồng, dựa trên kết quả xổ số Miền Bắc với tổng số tiền đánh bạc là 4.270.000 đồng.

Ngày 26/8/2020, đánh bạc dựa trên kết quả xổ số Đà Nẵng với tổng số tiền đánh bạc là 2.000.000 đồng; dựa trên kết quả xổ số Miền Bắc là 1.470.000 đồng.

Quá trình điều tra L không thừa nhận, các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ không đủ cơ sở chứng minh hành vi phạm tội của L nên không xem xét xử lý.

Trong vụ án còn có 06 đối tượng tham gia đánh bạc cùng với Nguyễn Văn L là Phan Thị D, Nguyễn Thị L, Mai Văn N, Nguyễn Thị Hồng N, Bùi Đăng T và Nguyễn Minh V nhưng số tiền đánh bạc dưới 05 triệu đồng, các đối tượng này chưa có tiền án, tiền sự, nên Cơ quan điều tra đã chuyển hồ sơ cho Phòng cảnh sát hình sự Công an tỉnh Quảng Bình để xử phạt hành chính theo quy định tại Điều 26, Nghị định 167/2013/NĐ-Cp ngày 12/11/2013 cảu Chính Phủ.

Đối với các đối tượng Phạm Văn T, Nguyễn Văn L, Nguyễn Thị M, Nguyễn Thị N, Phạm Ngọc H, Lê Thị N, Nguyễn Thị H và Hồ Thị M, do không đủ căn cứ để xác định số tiền đánh bạc nên không bị xử lý về hình sự và hành chính.

* Về vật chứng vụ án: Ngày 26/8/2020 cơ quan CSĐT công an tỉnh Quảng Bình tiến hành tạm giữ tại Nguyễn Văn L 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu đen đã qua sử dụng; một điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu hồng nhạt, đã qua sử dụng; 14 tờ tài liệu là bảng tập hợp số lô, số đề có chữ ký xác nhận của Nguyễn Văn L. Tạm giữ tại Nguyễn Thị Hồng N gồm: Tiền ngân hàng Nhà nước Việt Nam 130.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A6, màu đen, đã qua sử dụng; 01 phơi đề và 01 bảng đề đều ghi ngày 26/8/2020 có chữ ký xác nhận của Nguyễn Thị Hồng N. Số tiền ngân hàng Nhà nước Việt Nam 130.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A6, màu đen, đã qua sử dụng, Cơ quan điều tra đã chuyển cho Phòng cảnh sát hình sự Công an tỉnh Quảng Bình xử lý theo thủ tục hành chính. Sau khi xử phạt hành chính Phòng cảnh sát hình sự Công an tỉnh Quảng Bình đã chuyển trả lại 01 điện thoại di động cho cơ quan điều tra để giải quyết theo vụ án. Bản Cáo trạng số 01/CTr-VKS- P2 ngày 15/01/2021 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình, truy tố các bị cáo Nguyễn Văn L và Đỗ Thị T về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình giữ nguyên quyết định truy tố tại Bản cáo trạng; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; các điểm s, i khoản 1 Điều 51, điểm g khoảng 1 Điều 52, Điều 36 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L từ 24 tháng đến 30 tháng Cải tạo không giam giữ, khấu trừ từ 5% đến 10% thu nhập; phạt bổ sung 10 triệu đồng đến 15 triệu đồng; xử phạt bị cáo Đỗ Thị T từ từ 15 tháng đến 18 tháng Cải tạo không giam giữ khấu trừ từ 5% đến 10% thu nhập. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự, khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu đen đã qua sử dụng; một điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu hồng nhạt, đã qua sử dụng thu giữ từ Nguyễn Văn L; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A6, màu đen, đã qua sử dụng thu giữ từ Nguyễn Thị Hồng N. Đối với số tiền đánh bạc của Nguyễn Văn L và Đỗ Thị T qua tranh tụng tại phiên tòa xác định đây là số liệu dựa trên các phơi đề, là tang số để làm căn cứ truy tố, xét xử các bị cáo, trên thực tế Cơ quan điều tra không thu giữ được số tiền này, vì vậy không có căn cứ để buộc các bị cáo nộp lại số tiền trên để sung quỹ Nhà nước.

Tại phiên tòa, các bị cáo đều ăn năn, hối hận về hành vi phạm tội của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người tham gia tố tụng khác,

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo: Tại phiên toà hôm nay các bị cáo Nguyễn Văn L và Đỗ Thị T đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận: Từ ngày 18/8/2020 đến ngày 26/8/2020, Nguyễn Văn L đã đánh bạc với Đỗ Thị T, Nguyễn Thị Hồng N, Phan Thị D, Nguyễn Thị L, Mai Văn N và Bùi Đăng T dựa trên kết quả xổ số Miền Trung - Tây Nguyên với số tiền 21.642.000 đồng, dựa trên kết quả xổ số Miền Bắc với số tiền 9.971.000 đồng. Đỗ Thị T đánh bạc với Nguyễn Văn L ngày 26/8/2020 dựa trên kết quả xổ số Miền Trung với số tiền 13.090.000 đồng, dựa trên kết quả xổ số Miền Bắc với số tiền 7.075.000 đồng. Với hành vi và số tiền dùng vào việc đánh bạc nêu trên, nên Nguyễn Văn L và Đỗ Thị T đã phạm vào tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Xét Nguyễn Văn L và Đỗ Thị T đều nhận thức được việc pháp luật nhà nước nghiêm cấm hành vi đánh bạc dưới mọi hình thức; nhưng vì động cơ vụ lợi, các bị cáo đã cùng nhau thực hiện hành vi đánh bạc bằng hình thức mua bán số lô, số đề, thắng thua bằng tiền. Hành vi của các bị cáo góp phần làm gia tăng các tệ nạn xã hội, gây mất ổn định tình hình an ninh trật tự xã hội, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Vì vậy, cần xử phạt các bị cáo mức án tương tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự, nhằm cải tạo giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.

Trong vụ án này Nguyễn Văn L và Đỗ Thị T đều 02 lần thực hiện hành vi đánh bạc, cụ thể bị cáo Nguyễn Văn L với vai trò là chủ số lô, số đề thỏa thuận với các thư ký về việc đánh bạc bằng hình thức mua bán số lô, số đề, thắng thua bằng tiền; Nguyễn Văn L đã đánh bạc với các đối tượng trong vụ án gồm 02 lần: Dựa trên kết quả xổ số Miền Trung - Tây Nguyên với số tiền 21.642.000 đồng, dựa trên kết quả xổ số Miền Bắc với số tiền 9.971.000 đồng. Đỗ Thị T đánh bạc với Nguyễn Văn L ngày 26/8/2020 gồm 02 lần: Dựa trên kết quả xổ số Miền Trung với số tiền 13.090.000 đồng, dựa trên kết quả xổ số Miền Bắc với số tiền 7.075.000 đồng. Do đó, cả hai bị cáo bị áp dụng thêm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên”.

Xét Nguyễn Văn L với vai trò chính, tích cực, trực tiếp đánh bạc với nhiều đối tượng, số lượng tiền sử dụng vào hành vi đánh bạc nhiều hơn bị cáo Đỗ Thị T. Bị cáo Đỗ Thị T tham gia đánh bạc số tiền đánh ít hơn bị cáo Nguyễn Văn L. Do đó, Nguyễn Văn L phải chịu trách nhiệm chính trong vụ án, mức án áp dụng đối với Nguyễn Văn L sẽ nghiêm khắc hơn so với Đỗ Thị T.

Xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Văn L và Đỗ Thị T đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; các bị cáo đều có nhân thân tốt, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm s, i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Ngoài ra bị cáo bị cáo Nguyễn Văn L là người đã có thành tích cứu người trong đợt lũ lụt tháng 10/2020, được chính quyền địa phương xã K xác nhận, nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử quyết định áp dụng các tình tiết giảm nhẹ này để xét giảm nhẹ khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo.

Xét cả hai bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, phạm tội ít nghiêm trọng, nên áp dụng hình phạt Cải tạo không giam giữ quy định tại Điều 36 và khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự, cho các bị cáo được cải tạo tại địa phương, như quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là đúng mức, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật, tương xưng với tính chất, vai trò và mức độ phạm tội của các bị cáo trong vụ án.

Do các bị cáo Nguyễn Văn L và Đỗ Thị T được Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt Cải tạo không giam giữ, nên theo quy định tại Điều 36 Bộ luật hình sự Nguyễn Văn L và Đỗ Thị T phải bị khấu trừ thu nhập hàng tháng để sung quỹ Nhà nước. Tại phiên tòa theo trình bày và thừa nhận của bị cáo Nguyễn Văn L thì do làm nghề lao động tự do, nên thu nhập không ổn định, tính trung bình thu nhập khoảng 3 triệu đồng/tháng. Đỗ Thị T không có công việc ổn định, lao động tự do, nên thu nhập không ổn định, tính trung bình thu nhập từ 1,5 triệu đồng đến 2 triệu đồng/tháng. Hội đồng xét xử qua xem xét quyết định khấu trừ 5% mức thu nhập đối với 02 bị cáo, theo đó bị cáo Nguyễn Văn L bị khấu trừ thu nhập số tiền 150.000 đồng/tháng, bị cáo Đỗ Thị T bị khấu trừ thu nhập số tiền 100.000 đồng/tháng để sung quỹ Nhà nước.

Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng thêm hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Nguyễn Văn L số tiền 15.000.000 đồng, Đỗ Thị T số tiền 10.000.000 đồng để sung quỹ Nhà nước theo định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Đối với số tiền đánh bạc của Nguyễn Văn L và Đỗ Thị T như đã kết luận gồm: Nguyễn Văn L đánh bạc 02 lần, dựa trên kết quả xổ số Miền Trung - Tây Nguyên với số tiền 21.642.000 đồng, dựa trên kết quả xổ số Miền Bắc với số tiền 9.971.000 đồng. Đỗ Thị T đánh bạc 02 lần, dựa trên kết quả xổ số Miền Trung với số tiền 13.090.000 đồng, dựa trên kết quả xổ số Miền Bắc với số tiền 7.075.000 đồng. Đây là số tiền làm căn cứ kết luận 02 bị cáo phạm tội đánh bạc, tuy nhiên kết quả điều tra và tranh tụng tại phiên tòa xác định đây là số liệu dựa trên các phơi đề, là tang số để làm căn cứ truy tố, xét xử các bị cáo, trên thực tế Cơ quan điều tra không thu giữ được số tiền này; theo các bị cáo khai và kết quả điều tra xác định được thì một số người đánh đề mới chỉ ghi chưa thanh toán tiền, một số đã trả nhưng không nhớ cụ thể là bao nhiêu, một số người đánh bạc là thư ký đề mới chỉ chuyển số liệu...Vì vậy, đại diện Viện kiểm sát không đề nghị và Hội đồng xét xử không có căn cứ để tịch thu sô tiền này.

Về xử lý vật chứng: Số vật chứng được chuyển theo hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử quyết định xử lý số vật chứng này như sau: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu đen đã qua sử dụng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu hồng nhạt, đã qua sử dụng, thu giữ của Nguyễn Văn L, được Nguyễn Văn L sử dụng để đánh bạc; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A6, màu đen, đã qua sử dụng thu giữ từ Nguyễn Thị Hồng N, được Nguyễn Thị Hồng N sử dụng để đánh bạc, nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước; đối với 14 tờ tài liệu là bảng tập hợp số lô, số đề có chữ ký xác nhận của Nguyễn Văn L; 01 phơi đề và 01 bảng đề đều ghi ngày 26/8/2020 có chữ ký xác nhận của Nguyễn Thị Hồng N, đây là tài liệu, chứng cứ vụ án, cần bảo toàn, lưu tại hồ sơ vụ án.

Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Văn L và Đỗ Thị T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều 321; các điểm s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 47; Điều 36 của Bộ luật hình sự; Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức án phí, lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L và Đỗ Thị T phạm tội “Đánh bạc”.

2. Xử phạt Nguyễn Văn L 24 (hai mươi bốn) tháng Cải tạo không giam giữ, nhưng được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam trước từ ngày 27/8/2020 đến ngày 29/9/2020 là 34 ngày, quy đổi thành 102 ngày Cải tạo không giam giữ.

Hình phạt bổ sung: Phạt tiền đối với Nguyễn Văn L số tiền 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng).

Khấu trừ thu nhập đối với Nguyễn Văn L số tiền 150.000 đồng/tháng (một trăm năm mươi ngàn đồng/tháng).

Thời hạn chấp hành hình phạt Cải tạo không giam giữ và khấu trừ thu nhập kể từ ngày Ủy ban nhân dân xã K, huyện L, tỉnh Quảng Bình nhận được bản án và quyết định thi hành án của Tòa án.

Giao Nguyễn Văn L cho Ủy ban nhân dân xã K, huyện L, tỉnh Quảng Bình giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt. Trong trường hợp người chấp hành hình phạt Cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự.

3. Xử phạt Đỗ Thị T 15 (mười lăm) tháng Cải tạo không giam giữ.

Hình phạt bổ sung: Phạt tiền Đỗ Thị T số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng).

Khấu trừ thu nhập đối với Đỗ Thị T số tiền 100.000 đồng/tháng (một trăm ngàn đồng/tháng).

Thời hạn chấp hành hình phạt Cải tạo không giam giữ và khấu trừ thu nhập kể từ ngày Ủy ban nhân dân xã M, huyện L, tỉnh Quảng Bình nhận được bản án và quyết định thi hành án của Tòa án.

Giao Đỗ Thị T cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện L, tỉnh Quảng Bình giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án. Trong trường hợp người chấp hành hình phạt Cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự.

4. Xử lý vật chứng: Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu đen đã qua sử dụng; một điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu hồng nhạt, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A6, màu đen, đã qua sử dụng.

(Tất cả có đặc điểm được mô tả như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 20/01/2021 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Bình và Chi cục Thi hành án dân sự huyện L).

5. Án phí: Buộc các bị cáo Nguyễn Văn L, Đỗ Thị T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Báo cho các bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt, có quyền kháng cáo đối với phần có liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử theo trình tự phúc thẩm./.

Cỡ chữ