vanban.org

Bản án 11/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận Tuyên án 08/03/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Lâm Anh T phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

*Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 260, Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạ : Bị cáo Nguyễn Lâm Anh T 15 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Lâm Anh T phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều…"
  • Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Lâm Anh T phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÀM TÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH THUẬN
Bản án số: 11/2021/HS-ST.
Ngày: 08/3/2020.

NHÂN DANH

NUỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN, TỈNH BÌNH THUẬN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Ngô Thế Anh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Hữu Ái – Ông Phan Quang Sơn

Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Thương– Thư ký của Toà án nhân dân huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Cường– Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 3 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 05/2021/TLST-HS ngày 26 tháng 01 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2021/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 02 năm 2021, đối với bị cáo:

Nguyễn Lâm Anh T; Sinh năm 1978, tại Ninh Thuận

Nơi ĐKHKTT: Khu phố 2, phường Đạo L, TP. Phan R– Tháp Ch, tỉnh Ninh Thuận.

Chỗ ở hiện nay: Khu phố 2, phường Đạo L, TP. Phan R – Tháp Ch, tỉnh Ninh Thuận.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 8/12

Con ông Nguyễn Văn T (đã chết) và bà Lâm Thị T, sinh năm 1953.

Vợ: Nguyễn Thị N, sinh năm 1982; Có 04 con, con lớn nhất sinh năm 2003, con nhỏ nhất sinh năm 2014.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” (Có mặt).

hại : Ông Võ Văn H, sinh năm 1985 (đã chết);

Người đại diện hợp pháp của bị hại :

- Bà Lê Thị Đ, sinh năm 1956 (là mẹ ruột của ông H); Nơi cư trú : thôn 4, xã Tân P, huyện Hàm T, tỉnh Bình Thuận.

- Bà Trần Thị Ngọc Tr, sinh năm 1991 (là vợ của ông H); Nơi cư trú : thôn 4, xã Tân P, huyện Hàm T, tỉnh Bình Thuận.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án : Ông Đỗ Xuân N, sinh năm 1981; Nơi cư trú : Số 353, đường Nguyễn Tr, phường Nguyễn Cư Tr, quận 1, Tp. Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Lâm Anh T, có giấy phép lái xe ô tô hạng C, là tài xế lái xe thuê cho Đỗ Xuân N, sinh năm 1981 là chủ sở hữu xe ô tô tải biển số 51C-296.57, tải trọng 1,45 tấn.

Khoảng 20 giờ ngày 04/10/2020, Nguyễn Lâm Anh T điều khiển xe ô tô tải biển số 51C-296.57 chạy từ huyện Tánh L theo đường ĐT720 đi ra đường Quốc lộ 1A hướng thị trấn Tân M, huyện Hàm T để về Ninh Thuận. Khoảng 20 giờ 20 phút cùng ngày, khi đến đoạn Km 04 + 650m đường ĐT720 thuộc thôn 4, xã Tân Ph, huyện Hàm T (Đây là đoạn đường không có vạch kẻ tim đường, hai đầu đoạn đường có biển báo “Chỗ ngoặc nguy hiểm” và lúc này mặt đường trơn trợt do trời đang mưa nhỏ), Nguyễn Lâm Anh T điều khiển xe ô tô 51C-296.57 chạy với tốc độ khoảng 50 - 60 km/h và chạy lấn sang phần đường bên trái theo hướng đi để ôm cua thì phát hiện phía trước, cách xe T điều khiển khoảng 10m, ở phần đường bên trái hướng Tánh L → TT. Tân M có xe mô tô không biển số do Võ Văn H đang điều khiển chạy từ hướng ngược chiều đến. Do khoảng cách giữa hai xe gần nên T không xử lý kịp tình huống, đã để góc phía trước bên phải của đầu xe ô tô 51C-296.57 tông vào xe mô tô không biển số gây ra tai nạn. Hậu quả, Võ Văn H bị tử vong tại chỗ.

Theo bản Kết luận giám định pháp y về tử thi số 1088/PY-PC09 ngày 28/10/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Bình Thuận xác định thì:

- Nguyên nhân chết của Võ Văn H là do: Choáng đa chấn thương nặng không hồi phục do gãy hai tay, gãy hai chân, vỡ gan.

- Nồng độ cồn trong máu của Võ Văn H là 156,95mg/100ml.

Theo Biên bản khám nghiệm hiện trường do Cơ quan CSĐT Công an huyện Hàm T lập vào lúc 20 giờ 50 phút ngày 04/10/2020 thì đoạn đường nơi xảy ra tai nạn là đoạn đường cong, mặt đường bê tông nhựa phẳng, không có vạch kẻ tim đường, hai đầu đoạn đường có biển báo nguy hiểm “Chỗ ngoặc nguy hiểm”. Chiều rộng toàn bộ mặt đường bê tông nhựa là 11,2m. Toàn bộ dấu vết trên hiện trường được đo vào mép lề đường nhựa bên phải theo hướng TT. Tân M đi Tánh L, thể hiện như sau :

- Vết được đánh dấu số (1) tại hiện trường là tử thi nạn nhân, nằm ngửa, đầu tử thi hướng TT. Tân M, chân tử thi hướng Tánh L. Từ đầu tử thi đo đến mép lề đường nhựa bên phải được 3,1m, từ chân tử thi đo đến mép lề đường nhựa bên phải được 3m.

- Vết được đánh dấu số (2) tại hiện trường là xe mô tô không biển số nằm ngã nghiêng sang phải, toàn bộ bánh trước gãy rời khỏi xe, đầu xe dính vào góc trước bên phải của xe ô tô 51C-296.57. Từ trục bánh sau của xe mô tô không biển số đo đến mép lề đường nhựa bên phải được 3,8m.

- Vết được đánh dấu số (3) tại hiện trường là xe ô tô biển số 51C-296.57; đầu xe hướng TT. Tân M, đuôi xe hướng Tánh L. Từ đầu trục bánh trước bên trái của xe ô tô đo đến mép lề đường nhựa bên phải được 1,9m. Từ đầu trục bánh sau bên trái của xe ô tô đo đến mép lề đường nhựa bên phải được 2,5m.

- Vết được đánh dấu số (4) tại hiện trường là vùng mảnh vỡ, có kích thước (11,5 x 7,3)m. Từ tâm vết số (4) đo đến mép lề đường nhựa bên phải được 3,65m. Từ tâm vết số (4) đo đến đầu trục bánh sau bên phải của xe ô tô 51C-296.57 được 70cm.

- Vết được đánh dấu số (5) tại hiện trường là vết chà trên mặt đường bê tông nhựa của phần đường bên phải (theo hướng TT. Tân M đi Tánh L), có kích thước (0,32 x 11,25)m. Đầu vết hướng Tánh L, đo đến mép lề đường nhựa bên phải được 4,8m. Cuối vết hướng TT. Tân M, đo đến mép lề đường nhựa bên phải được 3,15m. Từ cuối vết số (5) đo đến đầu trục bánh sau bên trái của xe ô tô 51C-296.57 được 3,4m.

Theo các biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông do Cơ quan CSĐT Công an huyện Hàm T lập thì các dấu vết thể hiện sự va chạm giữa xe ô tô biển số 51C-296.57 và xe mô tô không biển số như sau:

- Đối với xe ô tô 51C-296.57: Kính chắn gió phía trước, phần bên phải có một vết rạn nứt từ dưới lên, kích thước (64 x 16)cm, bị tét rách và đẩy sâu vào 8cm; Mặt ga lăng, phần bên phải trước đầu xe bị móp méo, tét rách, kích thước (0,5 x 1,03)m, đẩy hướng từ trước ra sau 10cm; Cảng trước, phần bên phải bị móp méo, tét rách, kích thước (50 x 28)cm; Khung sắt trong của cảng trước bên phải bị móp méo, cong vênh, kích thước (15 x 44)cm, đẩy hướng từ trước ra sau 40cm và các hư hỏng khác được thể hiện trong biên bản.

- Đối với xe mô tô không biển số: Cơ cấu lái toàn bộ của bánh trước gồm hai phuộc, điểm ngã ba cổ lái, điểm giáp phần dưới của thân sườn, dè chắn bùn bánh trước, lốp và niềng bánh toàn bộ bị móp méo biến dạng, cong vênh, xô lệch khỏi vị trí, đứt rời; Thân sườn xe bị đẩy hướng từ trước ra sau 30cm, cong vênh, biến dạng toàn bộ; Tay nắm ba ga sau bị gãy cong, đẩy từ dưới lên 8cm và các hư hỏng khác được thể hiện trong biên bản.

Theo bản Kết luận giám định số 1169/KLGĐ-PC09 ngày 12/11/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Bình Thuận xác định thì:

- Vị trí va chạm giữa xe ô tô biển số 51C-296.57 và xe mô tô không biển số nằm cuối vết chà ký hiệu số (5) tại hiện trường, thuộc phần đường bên trái đường ĐT720, theo hướng Tánh L đi thị trấn Tân M, huyện Hàm T.

- Xe ô tô biển số 51C-296.57 lưu thông trên đường ĐT720 theo hướng Tánh Linh đi Quốc lộ 1A (TT. Tân M), xe mô tô không biển số lưu thông theo hướng ngược lại.

Theo bản Kết luận giám định số 1176/KLGĐ-PC09 ngày 12/11/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Bình Thuận xác định tình trạng an toàn kỹ thuật của xe ô tô 51C-296.57 thì: Hệ thống lái, hệ thống phanh, hệ thống động cơ và hệ thống khung gầm của xe ô tô biển số 51C-296.57 được lắp đặt đúng vị trí, đúng kỹ thuật, không phát hiện dấu vết hư hỏng do sự cố kỹ thuật.

Về dân sự : Nguyễn Lâm Anh T và ông Đỗ Xuân N (chủ xe ô tô 51C-296.57) đã bồi thường cho bên bị hại với tổng số tiền 104.000.000 đồng (trong đó, T bồi thường 4.000.000 đồng, ông N bồi thường 100.000.000 đồng).Tại phiên tòa chị Trần Thị Ngọc Tr (là người đại diện hợp pháp bên bị hại) yêu cầu Nguyễn Lâm Anh T bồi thường thêm 16.000.000 đồng. Bị cáo T đồng ý bồi thường, hàng tháng bị cáo T sẽ đưa 1.000.000 đồng (một triệu đồng) và được đại diện bị hại chấp nhận.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, đại diện hợp pháp bên bị hại có đơn bãi nại, xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo T.

Về vậ h ng ủa vụ n: Xe ô tô tải biển số 51C-296.57 đã được Cơ quan CSĐT Công an huyện Hàm T trả lại cho chủ sở hữu. Đối với xe mô tô không biển số, có số khung VDEPCG0041D*008187*, do xe không có nguồn gốc rõ ràng và cũng không có giấy đăng ký xe nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Hàm T đã chuyển cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Hàm T quản lý, chờ xử lý.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu.

Tại bản cáo trạng số: 09/CT-VKS ngày 22/01/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân truy tố bị cáo, về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a, khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm T vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Lâm Anh T phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng: điểm a, khoản 1 Điều 260; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điều 56 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Lâm Anh T 12 đến 18 tháng nhưng cho hưởng án treo.

Về phần dân sự : áp dụng Khoản 1 Ðiều 48 Bộ luật hình sự; Các Ðiều 584, 585, 586, 591 và 601 Bộ luật dân sự. Buộc bị cáo tiếp tục bồi thường số tiền 16.000.000 đồng cho đại diện bị hại.

Về xử lý vật chứng : Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Đối với xe mô tô không biển số, có số khung VDEPCG0041D*008187*, do xe không có nguồn gốc rõ ràng và cũng không có giấy đăng ký xe nên cần giao Công an huyện Hàm T xử lý theo quy định.

- Đối với giấy phép lái xe hạng C số 580104000307 do Sở giao thông vận tải tỉnh Ninh Thuận cấp ngày 03/01/2019 mang tên Nguyễn Lâm Anh T cần trả lại cho bị cáo T.

- Ý kiến của bị cáo Nguyễn Lâm Anh T: Đồng ý với nội dung luận tội của Kiểm sát viên nên không có ý kiến tranh luận.

- Bị cáo Nguyễn Lâm Anh T nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có điều kiện tiếp tục lao động nuôi dưỡng con nhỏ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hàm T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án (ông Đỗ Xuân N). Ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác có mặt tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử. Xét thấy, việc vắng mặt của những người nêu trên không gây trở ngại cho việc xét xử, vì lời khai của họ đã khai đầy đủ thể hiện rõ trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt là phù hợp với quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.

Về nội dung vụ án: Xét, lời khai của bị cáo Nguyễn Lâm Anh T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của những người tham gia tố tụng khác, phù hợp với Biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông, Kết luận giám định về thời điểm xảy ra tai nạn của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận và Kết luận giám định pháp y về thương tích của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Bình Thuận; đối chiếu với những tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở và căn cứ pháp lý để kết luận:

Khoảng 20 giờ 20 phút ngày 04/10/2020, khi điều khiển xe ô tô tải biển số 51C-296.57 đến Km 04 + 650m đường ĐT720 thuộc thôn 4, xã Tân P, huyện Hàm T, do không tuân thủ các quy tắc giao thông đường bộ nên Nguyễn Lâm Anh T (có giấy phép lái xe theo quy định) đã điều khiển ô tô 51C-296.57 chạy lấn sang phần đường bên trái theo hướng đi, dẫn đến tông vào xe mô tô không biển số do Võ Văn H điều khiển đang chạy từ hướng ngược chiều đến làm H bị tử vong tại chỗ.

Hành vi vi phạm của bị cáo Nguyễn Lâm Anh T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm T truy tố đối với bị cáo Nguyễn Lâm Anh T về tội danh, điều luật áp dụng là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.

Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, gây thiệt hại đến tính mạng của người khác, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân khi tham gia giao thông, do đó cần phải xử lý nghiêm để thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo tích cực cùng với chủ xe bồi thường khắc phục hậu quả, được bị hại có đơn bãi nại xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo T; Bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, nuôi 03 con nhỏ, là lao động chính trong gia đình. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy không cần bắt bị cáo cách ly ra khởi đời sống xã hội, mà áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự xử cho bị cáo được hưởng án treo và giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo thường trú để giám sát, giáo dục cũng đủ để giúp cho bị cáo trở thành một công dân tốt có ích cho gia đình và cho xã hội.

Về dân sự: Tại phiên tòa, đại diện hợp pháp của bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường thêm số tiền 16.000.000 đồng (mười sáu triệu đồng) và được bị cáo chấp nhận, bị hại đồng ý hàng tháng bị cáo T sẽ đưu 1.000.000 đồng (một triệu đồng) cho đến khi trả xong số tiền trên. Vì vậy, cần ghi nhận sự thỏa thuận của hai bên, buộc bị cáo bồi thường số tiền 16.000.000 đồng (mười sáu triệu đồng) cho đại diện hợp pháp của bị hại.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với xe mô tô không biển số, có số khung VDEPCG0041D*008187*, do xe không có nguồn gốc rõ ràng và cũng không có giấy đăng ký xe nên cần giao Công an huyện Hàm T xử lý theo quy định.

- Đối với giấy phép lái xe hạng C số 580104000307 do Sở giao thông vận tải tỉnh Ninh Thuận cấp ngày 03/01/2019 mang tên Nguyễn Lâm Anh T cần trả lại cho bị cáo Thịnh.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Lâm Anh T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

[1] Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Lâm Anh T phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

*Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 260, Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạ : Bị cáo Nguyễn Lâm Anh T 15 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Lâm Anh T cho Ủy ban nhân phường Đạo L, Tp Phan R-Tháp Ch, tỉnh Ninh Thuận để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

[2]. Về dân sự: Áp dụng Khoản 1 Ðiều 48 Bộ luật hình sự; Các Ðiều 584, 585, 586, 591 và 601 Bộ luật dân sự. Buộc bị cáo Nguyễn Lâm Anh T bồi thường số tiền 16.000.000 đồng cho bị hại, cách thức trả : Hàng tháng bị cáo T trả 1.000.000 đồng (một triệu đồng) cho đại diện bị hại chị Trần Thị Ngọc Tr cho đến khi trả xong số tiền 16.000.000 đồng (mười sáu triệu đồng).

[3]. Về vậ h ng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Giao Công an huyện Hàm T xử lý theo quy định đối với xe mô tô không biển số, có số khung VDEPCG0041D*008187 hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm T theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/01/2021 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện Hàm T và Chi cục Thi hành án huyện Hàm T.

- Trả lại 01 giấy phép lái xe hạng C số 580104000307 do Sở giao thông vận tải tỉnh Ninh Thuận cấp ngày 03/01/2019 mang tên Nguyễn Lâm Anh T cho bị cáo Nguyễn Lâm Anh T sau khi bản án có hiêu lực thi hành.

[4]. Về n phí: Áp dụng Điều 135 và Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Lâm Anh T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 800.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm .

[5]. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo và đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc ngày niêm yết bản án tại địa phương.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

(Đã giải thích chế định án treo đối với bị cáo Nguyễn Lâm Anh T).

Cỡ chữ