- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: “Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn”
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ L | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH THUẬN Bản án số: 11/2021/HNGĐ-ST Ngày: 23/02/2021 V/v: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NUỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ L, TỈNH BÌNH THUẬN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Vũ Toàn.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trịnh Văn Thái.
2. Ông Võ Thanh Đức.
Thư ký phiên toà: Ông Võ Chí Công – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thị xã L, tỉnh Bình Thuận.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã L, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Nữ – Kiểm sát viên.
Trong ngày 23 tháng 02 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã L xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 293/2020/TLST-HNGĐ, ngày 21 tháng 10 năm 2020, về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 12 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 12/2021/QĐST-HNGĐ ngày 27/01/2021, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Bà Văn Ngọc Thùy T, sinh năm 1996.
Địa chỉ: Khu phố 2, phường Tân An, thị xã L, tỉnh Bình Thuận.
* Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh Đ, sinh năm 1985.
Địa chỉ: Khu phố 3, phường Tân Thiện, thị xã L, tỉnh Bình Thuận.
(Bà T có mặt, ông Đ vắng mặt không lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và lời trình bày tại Tòa của nguyên đơn bà Văn Ngọc Thùy T có nội dung như sau:
Bà và ông Nguyễn Thanh Đ tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường Tân An, thị xã L, tỉnh Bình Thuận cấp giấy chứng nhận kết hôn số 74, ngày 24/6/2016. Sau khi kết hôn, vợ chồng bà dọn về nhà cha mẹ chồng tại khu phố 3, phường Tân Thiện, thị xã L sinh sống. Vợ chồng sống hạnh phúc được khoảng 06 tháng thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do ông Đ không lo làm, không quan tâm đến bà và giữa bà với mẹ ông Đ không hòa thuận nên thường xuyên mâu thuẫn. Mâu thuẫn kéo dài đến cuối năm 2017 thì bà nhận thấy không thể sống chung với ông Đ nên dọn về nhà cha mẹ ruột ở khu phố 2, phường Tân An, thị xã L sinh sống từ đó cho đến nay. Sau đó, giữa bà và ông Đ cũng tìm cách để hàn gắn nhưng không có kết quả, từ khi về nhà cha mẹ ở cho đến nay, bà và ông Đ mạnh ai nấy sống, không quan tâm lẫn nhau, hiện bà nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không thể hàn gắn nên khởi kiện yêu cầu ly hôn ông Đ. Mâu thuẫn của vợ chồng bà thì hàng xóm láng giềng, chính quyền địa phương cũng không biết do vợ chồng khi mâu thuẫn không báo để nhờ chính quyền can thiệp và cũng rất ít khi cải vả nhau.
Về con chung: Vợ chồng bà có 01 người con chung tên Nguyễn Thành N, sinh ngày 08/3/2018, giới tính nam, hiện đang sống với bà. Khi ly hôn bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, tại đơn khởi kiện bà yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 4.000.000 đồng, nay bà không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con nữa.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Về phía bị đơn – Ông Nguyễn Thanh Đ: Quá trình giải quyết, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông Đ không đến Tòa làm việc và cũng không có văn bản trình bày ý kiến gửi cho Tòa án. Mặc dù, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng tại phiên tòa hôm nay ông Đ vẫn vắng mặt không lý do.
* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa Hội đồng xét xử, người tiến hành tố tụng và đương sự đã tuân thủ đúng và đầy đủ trình tự, thủ tục tố tụng.
Về nội dung: Sau khi xem xét các tài liệu có tại hồ sơ vụ án, được thẩm tra qua phần tranh tụng tại phiên tòa đã đủ căn cứ xác định yêu cầu khởi kiện của bà Văn Ngọc Thùy T là có cơ sở. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T, cho bà T được ly hôn ông Đ; Về con chung: Giao người con tên Nguyễn Thành N, sinh ngày 08/3/2018, giới tính nam cho bà T nuôi dưỡng; Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của nguyên đơn bà Văn Ngọc Thùy T; Về án phí: Bà T phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, qua kết quả tranh tụng, lời phát biểu của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết tranh chấp: Xét yêu cầu ly hôn của bà Văn Ngọc Thùy T là tranh chấp về hôn nhân và gia đình; bị đơn có địa chỉ tại khu phố 3, phường Tân Thiện, thị xã L, tỉnh Bình Thuận. Vì vậy, tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã L, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về sự có mặt của đương sự tại phiên tòa: Tòa án đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng bị đơn ông Nguyễn Thanh Đ vắng mặt không lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông Đ là phù hợp với quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
3.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Văn Ngọc Thùy T và ông Nguyễn Thanh Đ tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường Tân An, thị xã L, tỉnh Bình Thuận cấp giấy chứng nhận kết hôn số 74, ngày 24/6/2016, vì vậy hôn nhân của ông bà là hợp pháp.
Quá trình giải quyết vụ án, dù đã được Tòa án nhiều lần khuyên can nhưng bà T vẫn một mực kiên quyết yêu cầu ly hôn ông Đ vì thực tế bà đã tìm nhiều cách hàn gắn hạnh phúc nhưng không có kết quả; Về phía bị đơn ông Nguyễn Thanh Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông Đ không đến Tòa làm việc và cũng không có văn bản trình bày ý kiến gửi cho Tòa án và tại phiên tòa hôm nay vắng mặt không lý do, qua đó cho thấy ông Đ bỏ mặc, không có thiện chí hàn gắn hạnh phúc gia đình.
Theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình thì vợ chồng có nghĩa vụ yêu thương, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình nhưng giữa vợ chồng bà T, ông Đ thì ông Đ không lo làm, không quan tâm đến bà T và giữa bà T với mẹ ông Đ không hòa thuận nên thường xuyên mâu thuẫn, làm cho bà T nhận thấy không thể sống chung nên về nhà cha mẹ sống, từ đó vợ chồng bà T, ông Đ mạnh ai nấy sống, không quan tâm lẫn nhau, hành vi của ông Đ làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Đó là căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
3.2. Về con chung: Vợ chồng bà có 01 người con chung tên Nguyễn Thành N, sinh ngày 08/3/2018, giới tính nam, hiện đang sống với bà T. Khi ly hôn bà T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và người con hiện đang dưới 36 tháng tuổi, do đó để đảm bảo quyền lợi tốt nhất về mọi mặt của cháu N đặc biệt là các điều kiện cho sự phát triển về thể chất, việc học hành và tinh thần. Vì vậy, Hội đồng xét xử sẽ giao cháu N cho bà Trang trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp theo quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
3.3. Về cấp dưỡng nuôi con: Do bà T rút yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con, cho nên Hội đồng xét xử đã giải thích cho bà T hiểu rằng việc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con là quyền lợi của con nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con. Tuy nhiên, bà T trình bày rằng việc không yêu cầu cấp dưỡng là tự nguyện, bà có đầy đủ khả năng, điều kiện nuôi dưỡng con nên Hội đồng xét xử không buộc ông Đ phải cấp dưỡng nuôi con mà đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu cấp dưỡng nuôi con là phù hợp với Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự.
3.4. Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bà T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm về ly hôn theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228 và Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Điều 51, khoản 1 Điều 56 và Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Tuyên xử: “Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn”
1. Về hôn nhân: Bà Văn Ngọc Thùy T được ly hôn ông Nguyễn Thanh Đ.
2. Về nuôi con chung: Giao người con chung tên Nguyễn Thành N, sinh ngày 08/3/2018, giới tính nam cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng,
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về cấp dưỡng nuôi con: Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của nguyên đơn bà Văn Ngọc Thùy T.
4. Về án phí: Bà Văn Ngọc Thùy T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm ly hôn nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0001469 ngày 21/10/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã La Gi, bà T đã nộp đủ án phí.
5. Về quyền kháng cáo: Bà T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 23/02/2021). Ông Đ được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp Bản án thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự đã sửa đổi, bổ sung, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự đã sửa đổi, bổ sung. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự đã sửa đổi, bổ sung.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Thuận; - VKSND thị xã L; - THADS thị xã L; - UBND p. Tân An; - Đương sự; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thị Vũ Toàn |