vanban.org

Bản án 11/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử ly hôn giữa chị Phạm Thị C và anh Trịnh Văn Q.

Về con chung: Giao chị Phạm Thị C tiếp tục trực tiếp nuôi cả 02 con chung là Trịnh Huyền T; sinh ngày 27- 7- 2005 và Trịnh Bảo C; sinh ngày 26- 8- 2011 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành, có khả năng lao động tự lập được. Anh Q không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho chị C. Anh Q được qu…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án hôn nhân và gia đình về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con" giữa chị Phạm Thị C và anh Trịnh Văn Q"
  • Tòa quyết gì? Xử ly hôn giữa chị Phạm Thị C và anh Trịnh Văn Q.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GIAO THỦY
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 02-02-2021
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
giữa chị Phạm Thị C
và anh Trịnh Văn Q

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Ông Ngọc Lễ.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Vũ Cao Thượng.

Bà Phùng Thị Quỳnh.

- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Lan Anh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Lâm Thị Tuất - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 02 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 205/2020/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 10 năm 2020 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Q định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 01 năm 2021 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị C; sinh năm 1980; địa chỉ: Xóm X, xã G1, huyện G, tỉnh N; “có mặt”.

- Bị đơn: Anh Trịnh Văn Q; sinh năm 1981; địa chỉ: Xóm X, xã G1, huyện G, tỉnh N; “vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 15- 10- 2020, bản tự khai và tại phiên toà, nguyên đơn là chị Phạm Thị C trình bày:

Chị và anh Trịnh Văn Q tự nguyện tìm hiểu, được Uỷ ban nhân dân xã Giao Thiện, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 03 tháng 12 năm 2004. Hai bên gia đình tổ chức đám cưới theo phong tục của địa phương. Sau cưới, vợ chồng chung sống hạnh phúc được 15 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh Q thay đổi tính nết, vợ chồng xảy ra bất đồng quan điểm, anh Q đánh đập, chửi bới chị. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 9 năm 2019 cho đến nay. Nay chị xác định vợ chồng không thể đoàn tụ được nữa đề nghị Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy giải quyết cho chị được ly hôn anh Trịnh Văn Q.

Về con: Vợ chồng có 02 con chung là Trịnh Huyền T; sinh ngày 27- 7- 2005 và Trịnh Bảo C; sinh ngày 26- 8- 2011. Hiện nay, cả 02 con chung đang ở cùng chị, ly hôn chị nhận nuôi cả 02 con và không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con chung cho chị.

Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, ruộng nhận khoán của hợp tác xã: Chị C không yêu cầu Toà án giải Q.

Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy đã thông báo và tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bị đơn anh Trịnh Văn Q đều vắng mặt không có lý do.

Tại bản tự khai ngày 30- 10- 2020, cháu Trịnh Bảo C có nguyện vọng muốn ở với mẹ. Tại bản tự khai ngày 05- 01- 2021, cháu Trịnh Huyền T trình bày ý kiến không muốn bố mẹ ly hôn, cháu muốn sống cùng với cả bố và mẹ.

Tại biên bản xác minh, thu thập chứng cứ ngày 10- 11- 2020 đại diện đoàn thể cũng như đại diện Ủy ban nhân dân xã G1, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định cung cấp: Chị Phạm Thị C và anh Trịnh Văn Q đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Giao Thiện. Vợ chồng mua đất và xây nhà riêng tại xóm 9, xã G1 vào khoảng năm 2007. Trong quá trình chung sống, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn sâu sa như thế nào địa phương không biết được. Có những lúc vợ chồng cãi chửi nhau, khu xóm đến căn ngăn và đỉnh điểm là vào khoảng cuối năm 2019, vợ chồng có xảy ra xô xát, cãi chửi nhau, anh Q bỏ nhà đi từ thời điểm đó. Sau đó, anh Q có về nhà nhưng vợ chồng vẫn tiếp tục xích mích, lời qua tiếng lại. Về khả năng đoàn tụ của vợ chồng ở thời điểm hiện tại, địa phương thấy là khó, đề nghị Toà án căn cứ vào quy định của pháp luật giải quyết cho vợ chồng ly hôn. Vợ chồng có 02 con chung là Trịnh Huyền T; sinh ngày 27- 7- 2005 và Trịnh Bảo C; sinh ngày 26- 8- 2011; hiện nay cả 02 con chung đang ở cùng chị C, trường hợp Toà án giải quyết cho vợ chồng ly hôn nên giao cả 02 giao con chung cho chị C tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp. Vợ chồng không liên quan gì về tài sản, công nợ đối với tập thể.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Nghị Q 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị C. Về con chung, giao cho chị C tiếp tục nuôi dưỡng cả 02 con chung là Trịnh Huyền T; sinh ngày 27- 7- 2005 và Trịnh Bảo C; sinh ngày 26- 8- 2011 là phù hợp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Trịnh Văn Q đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, căn cứ Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị C và anh Trịnh Văn Q đã tự nguyện tìm hiểu, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Giao Thiện, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định vào ngày 03- 12- 2004 là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Sau cưới, vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 15 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống nên thường xảy ra tranh cãi, xích mích. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 9 năm 2020 cho đến nay không còn quan tâm đến nhau nữa. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án cho anh Q, nhưng anh Q không đến Tòa án để giải quyết vụ án. Như vậy, anh Q không tha thiết đến cuộc sống chung của vợ chồng nữa. Xét thấy mâu thuẫn giữa chị C và anh Q đã trầm trọng, nếu kéo dài cũng không mang lại hạnh phúc. Vì vậy chấp nhận nguyện vọng của chị Phạm Thị C xin ly hôn anh Trịnh Văn Q là phù hợp với Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Trịnh Huyền T; sinh ngày 27-7- 2005 và Trịnh Bảo C; sinh ngày 26- 8- 2011. Xét nguyện vọng của chị C, ý kiến của các con chung và điều kiện thực tế kể từ khi vợ chồng sống ly thân, chị C vẫn đảm đương việc học hành và nuôi dạy con chung được ổn định. Vì vậy, giao cả 02 con chung là cháu Trịnh Huyền T và cháu Trịnh Bảo C cho chị C tiếp tục nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành, có khả năng lao động tự lập được là phù hợp với Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình. Chị C không yêu cầu anh Q phải cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Anh Q được quyền thăm nom con, không ai được cản trở.

[4] Về tài sản: Chị C không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

[5] Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Phạm Thị C phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị Q số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

[6] Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

Q ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 56, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, 228, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị Q số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

1. Xử ly hôn giữa chị Phạm Thị C và anh Trịnh Văn Q.

2. Về con chung: Giao chị Phạm Thị C tiếp tục trực tiếp nuôi cả 02 con chung là Trịnh Huyền T; sinh ngày 27- 7- 2005 và Trịnh Bảo C; sinh ngày 26- 8- 2011 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành, có khả năng lao động tự lập được. Anh Q không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho chị C.

Anh Q được quyền thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Phạm Thị C phải nộp tiền án phí ly hôn sơ thẩm là: 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) chị C đã nộp theo biên lai thu số 0000042 ngày 15 tháng 10 năm 2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giao Thủy nay được chuyển thành án phí (chị C đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm).

4. Về quyền kháng cáo: Chị C có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Q có quyền kháng cáo bản án trong thời 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ