vanban.org

Bản án 11/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị T đối với ông Nguyễn H.

1/ Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị T được ly hôn với ông Nguyễn H. 2/ Về con chung: Không yêu cầu giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị T đối với ông Nguyễn H.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẮC BÌNH
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2021/HNGĐ-ST
Ngày 13/4/2021
V/v tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Minh Thạo

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lại Thị Mỹ Tâm và bà Xích Thị Bích Nhi

- Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Hoàng Bảo Vân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình .

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình tham gia phiên tòa: Nguyễn Thị Như Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 368/2020/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 11 năm 2020, về việc tranh chấp ly hôn và con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 01/3/2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 08/2021/QĐST-HNGĐ ngày 22/3/2021, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1969

- Bị đơn: Ông Nguyễn H, sinh năm 1969 (Vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Thôn Thanh Bình, xã Phan Thanh, huyện Bắc Bình, Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn – Bà Nguyễn Thị T trình bày: Bà và ông Nguyễn H tự nguyện tìm hiểu với nhau và sống chung với nhau từ năm 1992 và đăng ký kết hôn tại UBND xã Phan Thanh vào ngày 27/02/2004. Hai người có 01 đứa con chung tên là Nguyễn Cao Trường, sinh năm 1993 đến nay đã trưởng thành và có khả năng lao động. Vào năm 2017, vợ chồng bắt đầu xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do ông Hải có người phụ nữ khác ở bên ngoài, nhiều lần đi chơi bên ngoài về thì gây sự đánh đập bà và hiện nay hai người đã ly thân được 5 năm. Nay, bà cảm thấy tình cảm của bà đối với ông Hải không còn nữa nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn H để bà có cuộc sống riêng.

Về con chung: Có một đứa con tên là Nguyễn Cao Trường, sinh năm 1993 đã trưởng thành và có khả năng lao động nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn là ông Nguyễn H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các thông báo và Quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng đến ngày mở phiên tòa lần thứ hai ông Nguyễn H vẫn vắng mặt và cũng không có lời khai.

*Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, Tòa án đã vi phạm về thủ tục nhận và xử lý đơn khởi kiện, vi phạm việc Thư ký đã tham gia tố tụng trong vụ án này mà vẫn tiếp tục tham gia đến ngày 10/3/2021. Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T đã chấp hành đúng quy định của pháp luật, bị đơn là ông Nguyễn H đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt, Kiểm sát viên đề nghị Tòa án căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt bị đơn. Đồng thời đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 9, Điều 19, Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho bà Nguyễn Thị T được ly hôn với ông Nguyễn H.

- Về con chung: Con đã trưởng thành và có khả năng lao động nên đề nghị không xem xét.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu nên đề nghị không xét.

- Về án phí: Giải quyết theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, xét yêu cầu và ý kiến của các bên đương sự; ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng:

Về thẩm quyền giải quyết: Bà Nguyễn Thị T có đơn khởi kiện đề nghị xin ly hôn với ông Nguyễn H. Ông Nguyễn H có nơi cư trú tại thôn Thanh Bình, xã Phan Thanh, huyện Bắc Bình, Bình Thuận. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận.

Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị T có mặt, bị đơn là ông Nguyễn H đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo quy định.

. Về nội dung:

Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn bà Nguyễn Thị T vẫn giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với với ông Nguyễn H, xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy: Bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn H tiến đến hôn nhân là hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Phan Thanh vào ngày 27/02/2004. Hai người có 01 đứa con chung tên là Nguyễn Cao Trường, sinh năm 1993. Vào năm 2017, vợ chồng bắt đầu xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do ông Hải có người phụ nữ khác ở bên ngoài, nhiều lần đi chơi bên ngoài về thì gây sự đánh đập bà. Trong quá trình giải quyết, Tòa án đã triệu tập nhiều lần mà ông Nguyễn H vẫn không đến, điều đó chứng tỏ rằng ông Nguyễn H không có mong muốn để đoàn tụ gia đình. Hơn nữa, thời gian hai người ly thân cũng đã lâu, giữa hai người có mâu thuẫn như vậy là đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên hai người không thể tiếp tục cuộc sống chung được nữa. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị T cũng như ý kiến của Kiểm sát viên là phù hợp theo quy định.

Về con chung: Hiện nay, Nguyễn Cao Trường đã trưởng thành và có khả năng lao động nên bà Tuyết không có yêu cầu nên HĐXX không xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị T không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

. Về án phí: Bà Nguyễn Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 và khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

- Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị T đối với ông Nguyễn H.

1/ Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị T được ly hôn với ông Nguyễn H.

2/ Về con chung: Không yêu cầu giải quyết.

3/ Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết

4/ Về án phí: Bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn đồng) đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn đồng) đồng theo biên lai thu số 0006637 ngày 30/11/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Bình, bà Nguyễn Thị T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (13/4/2021); Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Cỡ chữ