vanban.org

Bản án 11/2021/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng gia công

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thƣ ng vụ Quốc hội Kh a XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và l phí Tòa án.

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi ki n của nguyên đơn bà Phan Thị T đối với bị đơn bà Nguyễn Khánh L về vi c “Tranh chấp hợp đồng gia công”. Buộc bà Nguyễn Khánh L c trách nhi m trả lại cho bà Phan Thị T số tiền đ nhận cọc là 108.500.000 đồng (một trăm lẻ tám tri u năm trăm nghìn đồng). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Hành trình vụ án
Sơ thẩm — đang xem Bản án 11/2021/DS-ST Tuyên án 26/03/2021
Phúc thẩm Bản án 148/2021/DS-PT Tuyên án 20/01/2022

Hành trình ghép tự động từ trích dẫn giữa các bản án đã công bố — có thể chưa đủ mọi giai đoạn của vụ án.

Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng gia công — án dân sự — "Phan Thị T- Nguyễn Khánh L"
  • Tòa quyết gì? Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thƣ ng vụ Quốc hội Kh a XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và l phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THUẬN AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 11/2021/DS-ST
Ngày: 26-3-2021
V/v Tranh chấp hợp đồng
gia công.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hu .

Các Hội thẩm nhân dân:

1.Bà Nguyễn Ngọc Hồng;

2. Ông Hoàng Phú.

- Thư ký phiên toà: Bà Thái Thị Yến là Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 3 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 244/2020/TLST-DS ngày 26 tháng 10 năm 2020 về vi c tranh chấp hợp đồng gia công theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 10/2021/QĐXXST - DS ngày 10 tháng 3 năm 2021, giữa các đƣơng sự:

Nguyên đơn: Bà Phan Thị T, sinh năm 1984; nơi thƣ ng trú: p A, x X, huy n Q, tỉnh Đồng Nai. Ngƣ i đại di n hợp pháp của nguyên đơn ông Lê Kinh D, sinh năm 1991; nơi thƣ ng trú: X m S, x N, huy n S, tỉnh Thanh H a là ngƣ i đại di n theo ủy quyền của nguyên đơn (văn bản ủy quyền ngày 07 tháng 8 năm 2019). C mặt.

Bị đơn: Bà Nguyễn Khánh L, sinh năm 1982; nơi thƣ ng trú: p V 2, x P, huy n D, tỉnh Tây Ninh. Vắng mặt, c yêu cầu giải quyết vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Phạm Thị Ngọc B , sinh năm 1995; nơi thƣ ng trú: p E, x T, huy n Đ, thành phố Cần Thơ; nơi tạm trú: Số B, khu phố L, phƣ ng T, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng. Vắng mặt, c yêu cầu giải quyết vắng mặt

Ông Trần Văn Tr, sinh năm: 1981; nơi thƣ ng trú: p V, xã T, huy n C, tỉnh Tây Ninh. Vắng mặt, c yêu cầu giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 13 tháng 5 năm 2019 của bà Phan Thị T và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn trình bày:

Bà Phan Thị T và bà Nguyễn Khánh L c quen biết và gia công hạt cƣ m chung với nhau. Giữa bà L và bà T có ký kết với nhau 03 hợp đồng gia công, nội dung hợp đồng thể hi n bà L c trách nhi m sản xuất hàng h a cung cấp nguyên vật li u chính cho bà T, bà T phải đặt cọc tiền trƣớc và nhận hàng về gia công xâu vòng tay, se dây xỏ thú, rèm… Bà T sẽ nhận hàng sau 01 ngày đặt cọc tiền, th i gian thành phẩm từ 10 đến 14 ngày sau ngày lấy hàng. Trong quá trình gia công bà L c quyền kiểm tra và yêu cầu bên bà T gia công theo đúng mẫu sản phẩm nhƣ đ thỏa thuận. Bên bà L c trách nhi m đảm bảo cung ứng nguyên vật li u cho bên bà T hoàn thành sản phẩm, cụ thể:

Ngày 07/3/2019 bà L và bà T ký kết hợp đồng gia công hàng h a, theo hợp đồng trên bà T nhận 30kg đá màu và đặt cọc 24.000.000 đồng, th i gian giao hàng thành phẩm từ 10 đến 14 ngày, tiền công 4.500.000 đồng. Bà T đ giao hàng thành phẩm cho bà L vào ngày 09/3/2019. Bà L là ngƣ i trực tiếp nhận hàng, kiểm tra hàng và bà L đ trả cho bà T số tiền cọc 4.500.000 đồng.

Ngày 11/3/2019 bà T đặt cọc tiếp số tiền 44.000.000 đồng và nhận 55kg đá màu về gia công, ngày 13/3/2019 bà Tuyến đ giao hàng thành phẩm cho bà L nhƣng bà L chƣa thanh toán tiền công 9.900.000 đồng và tiền cọc cho bà T.

Ngày 19/3/2019 bà T đặt cọc tiếp số tiền 56.000.000 đồng và nhận 70kg đá màu về gia công. Ngày 21/3/2019 bà Tuyến đ giao hàng thành phẩm lại cho bà L, tiền công là 12.600.000 đồng nhƣng bà L chƣa thanh toán tiền cọc và tiền công lại cho bà T mà hẹn ngày khác sẽ thanh toán.

Ngày 23/3/2019 bà L đ trả thêm cho bà T số tiền đặt cọc là 11.000.000 đồng.

Tổng cộng bà L đ nhận tiền cọc của bà T cả ba lần là 124.000.000 đồng, bà L đ trả lại đƣợc số tiền 15.500.000 đồng. Nay bà L còn nợ lại tiền cọc là 108.500.000 đồng.

Do đ bà T khởi ki n yêu cầu bà L phải trả lại toàn bộ số tiền đặt cọc còn nợ là 108.500.000 đồng, bà T xác định không yêu cầu bà L trả số tiền công đ thực hi n. Ngoài ra không còn yêu cầu nào khác.

Các tài li u, chứng cứ nguyên đơn cung cấp để chứng minh yêu cầu khởi ki n: Biên bản hòa giải ngày 08/4/2019 tại ban điều hành khu phố P, phƣ ng N, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng, hợp đồng gia công hàng h a ngày 07/3/2019, ngày 11/3/2019, ngày 19/3/2019.

Tại bản tự khai và biên bản lấy lời khai ngày 05/7/2019, ngày 16/12/2020 bị đơn bà Nguyễn Khánh L trình bày: Bà c nhận tiền cọc của bà Phan Thị T để đƣa cho bà Phạm Thị Ngọc B đến xƣởng gia công A tại địa chỉ: Đ, phƣ ng X, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh để nhận hàng hạt cƣ m về cho bà T gia công các lần cụ thể nhƣ sau: Ngày 07/3/2019 bà nhận 24.000.000 đồng, ngày 11/3/2019 bà nhận 44.000.000 đồng, ngày 19/3/2019 bà nhận 56.000.000 đồng, tổng cộng 124.000.000 đồng, sau đ bà T đ mƣợn lại bà L số tiền 15.500.000 đồng nên bà L xác định số tiền bà T đặt cọc còn lại là 108.500.000 đồng. Nay bà T khởi ki n yêu cầu bà L trả số tiền 108.500.000 đồng thì bà L không đồng ý vì bà xác định bà c nhận số tiền trên của bà T nhƣng bà đ giao lại cho bà B để bà B đặt cọc cho xƣởng gia công A để nhận hạt cƣ m về cho bà T gia công. Nay chủ xƣởng gia công A đ bỏ trốn, bà B đang tố cáo chủ xƣởng khi nào chủ xƣởng gia công A trả lại tiền cho bà thì bà sẽ trả lại tiền cho bà T. Bà L c đơn yêu cầu đƣợc giải quyết vắng mặt trong tất cả các giai đoạn tố tụng của vụ án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Phạm Thị Ngọc B trình bày: Bà và bà T, bà L c quan h quen biết cùng là phụ huynh đƣa đ n con đi học. Do vào mạng FACEBOOK nên bà B c biết xƣởng gia công A đang cần ngƣ i nhận hàng hạt cƣ m về gia công tại nhà nên bà và bà L c thỏa thuận hai chị em cùng làm chung, bà B là ngƣ i đứng tên trên hợp đồng tại xƣởng gia công A. Khoảng tháng 3/2019 bà B và bà L có quen bà T và bà T c n i với bà L nhận hàng gia công về cho bà cùng gia công. Bà B xác định bà chỉ nhận số tiền 30.000.000 đồng từ bà L, bà L n i đây là tiền của bà T nh bà đi lấy hàng giúp. Ngoài ra bà không nhận bất kỳ tiền gì từ bà T. Bà cũng không ký kết bất kỳ hợp đồng gia công nào với bà L. Vi c bà L cung cấp các hợp đồng gia công giữa bà và bà L là do bà L yêu cầu bà B lập khi bà T đ khởi ki n bà L, thực tế trƣớc đ hai bên không c lập hợp đồng. Bà B không có ý kiến hay yêu cầu gì đối với vụ án, bà c đơn yêu cầu đƣợc giải quyết vắng mặt trong tất cả các giai đoạn tố tụng của vụ án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn Tr trình bày: Ông là chồng của bà Nguyễn Khánh L, ông hoàn toàn không biết gì về vi c nhận gia công hạt cƣ n mà bà T đang khởi ki n bà Nguyễn Khánh L. Đối với số tiền 108.500.000 đồng mà bà Phan Thị T đang khởi ki n bà Nguyễn Khánh L ông hoàn toàn không biết gì, ông không sử dụng hay liên quan gì đối với số tiền trên. Nay bà T khởi ki n bà L ông xác định ông không liên quan gì, và cũng không c yêu cầu gì đối với vụ án trên, mọi vấn đề trong vụ án do bà Nguyễn Khánh L tự quyết định. Ông c đơn yêu cầu đƣợc giải quyết vắng mặt trong tất cả các giai đoạn tố tụng của vụ án.

Đại di n Vi n kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An phát biểu ý kiến:

Về vi c tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình thụ lý cho đến trƣớc khi Hội đồng xét xử nghị án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thƣ ký phiên tòa và các đƣơng sự đ thực hi n đúng trình tự, thủ tục đƣợc pháp luật quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Căn cứ vào hồ sơ vụ án, các tài li u, chứng cứ đ đƣợc Hội đồng xét xử xem xét và kết quả tranh tụng của những ngƣ i tham gia tố tụng tại phiên tòa, nhận thấy tại phiên tòa nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả số tiền đ nhận 108.500.000 đồng là c căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi ki n của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài li u c trong hồ sơ vụ án đƣợc thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Quá trình tố tụng, bị đơn bà Nguyễn Khánh L, ngƣ i c quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị Ngọc B, ông Trần Văn Tr c đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Do vậy, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà L, bà B, ông T theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2 Về quan h tranh chấp: Bà Phan Thị T khởi ki n yêu cầu bà Nguyễn Khánh L trả số tiền đ nhận cọc tại hợp đồng gia công hàng h a nên quan h pháp luật trong vụ án đƣợc xác định là “Tranh chấp hợp đồng gia công” theo khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

3 Về thẩm quyền giải quyết: Tại th i điểm Tòa án thụ lý và trong quá trình làm vi c tại Tòa án thì bà Nguyễn Khánh L có cƣ trú tại số B213A, khu phố P, phƣ ng N, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng. Trong quá trình giải quyết vụ án, bà L có thay đổi địa chỉ về nơi thƣ ng trú và hi n nay đang sinh sống tại ấp Trâm Vàng 2, x P, huy n D, tỉnh Tây Ninh nên Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng tiếp tục giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn xác định bà và chủ xƣởng gia công A không c lập hợp đồng gia công nào mà chỉ c bà Phạm Thị Ngọc B lập hợp đồng gia công với xƣởng gia công A. Bà B xác định bà không nhận bất kỳ tiền gì từ bà T. Ngoài ra, qua các chứng cứ nguyên đơn, bị đơn và ngƣ i c quyền lợi nghĩa vụ liên quan cung cấp thì không c chứng cứ nào thể hi n Xƣởng gia công A c liên quan trong vụ án trên. Do đ , Tòa án không đƣa ngƣ i đại di n hợp pháp của xƣởng gia công A vào tham gia tố tụng với tƣ cách là ngƣ i c quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Trƣ ng hợp phát sinh tranh chấp giữa bà L, bà B và xƣởng gia công A sẽ đƣợc xem xét giải quyết trong vụ án khác khi các đƣơng sự c yêu cầu.

Vi c bà Nguyễn Khánh L thừa nhận có nhận tiền cọc của bà Phan Thị T tại ba hợp đồng gia công hàng h a ngày 07/3/2019, 11/3/2019 và ngày 19/3/2019 số tiền là 124.000.000 đồng, đ trả lại 15.500.000 đồng, còn lại 108.500.000 đồng. Xét sự thừa nhận trên của đƣơng sự là tình tiết, sự ki n không phải chứng minh theo Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi ki n, yêu cầu bị đơn trả lại số tiền đ nhận cọc 108.500.000 đồng.

Xét thấy căn cứ vào các hợp đồng gia công hàng h a ngày 07/3/2019, 11/3/2019 và ngày 19/3/2019 mà bà T và bà L ký kết thì chỉ thể hi n bên đặt gia công là bà Nguyễn Khánh L, bên nhận gia công là bà Phan Thị T. Bà T giao tiền cọc và thành phẩm cho bà L. Không thể hi n nội dung nào liên quan đến xƣởng gia công A nhƣ bà L trình bày. Bà L trình bày đƣa tiền của bà T đặt cọc cho bà Phạm Thị Ngọc B và nh bà B đứng tên trong hợp đồng với xƣởng gia công A nhƣng bà B chỉ thừa nhận c một lần nhận tiền từ bà L vào ngày 19/3/2019 số tiền 30.000.000 đồng, còn những lần khác bà L tự đi lấy hàng về đƣa cho bà T; vi c ký kết hợp đồng gia công hàng h a giữa bà L và bà B lại đƣợc thực hi n sau khi bà T khởi ki n bà L; thực tế bà L và bà B không ký kết hợp đồng gì. Ngoài ra, trong quá trình giải quyết vụ án bà L không cung cấp đƣợc chứng cứ chứng minh bà L chỉ đứng ra nhận dùm hạt cƣ m cho bà T. Mặt khác, l i trình bày của bị đơn cũng không đƣợc nguyên đơn thừa nhận. Do đ trình bày của bị đơn bà L là không c cơ sở chấp nhận.

[7 Theo nội dung hợp đồng và sự thừa nhận của các đƣơng sự thì công vi c của bà T đ hoàn thành nhƣng bà L chƣa thanh toán tiền công và trả lại tiền đặt cọc là vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng. Tuy nhiên bà T không yêu cầu bà L trả tiền công mà chỉ yêu cầu trả lại tiền đặt cọc. Xét thấy, đây là sự tự nguy n của bà T nên Hội đồng xét xử không xem xét đối với số tiền công trên.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử c căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi ki n của nguyên đơn về vi c buộc bị đơn phải trả lại số tiền đ nhận cọc còn lại là 108.500.000 đồng.

[9 Phát biểu của Kiểm sát viên về vi c giải quyết vụ án là c cơ sở và phù hợp quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí sơ thẩm: Bị đơn phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; Điều 35; Điều 39; Điều 92; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Điều 542, Điều 544 và Điều 547 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thƣ ng vụ Quốc hội Kh a XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và l phí Tòa án.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi ki n của nguyên đơn bà Phan Thị T đối với bị đơn bà Nguyễn Khánh L về vi c “Tranh chấp hợp đồng gia công”.

Buộc bà Nguyễn Khánh L c trách nhi m trả lại cho bà Phan Thị T số tiền đ nhận cọc là 108.500.000 đồng (một trăm lẻ tám tri u năm trăm nghìn đồng).

Kể từ ngày ngƣ i đƣợc thi hành án c đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong, nếu ngƣ i phải thi hành án chậm thi hành thì còn phải chịu tiền l i theo mức l i suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Về án phí:

Bà Nguyễn Khánh L phải chịu 5.425.000 đồng (năm tri u bốn trăm hai mƣơi lăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả cho bà Phan Thị T số tiền tạm ứng án phí đ nộp là 2.712.500 đồng (hai tri u bảy trăm mƣ i hai nghìn năm trăm đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, l phí Tòa án số 0035498 ngày 19 tháng 6 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.

3. Nguyên đơn c mặt c quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn; ngƣ i c quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt c quyền kháng cáo bản án trong th i hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết theo quy định pháp luật.

Trƣ ng hợp bản án này đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ngƣ i đƣợc thi hành án dân sự, ngƣ i phải thi hành án dân sự c quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguy n thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự th i hi u thi hành án đƣợc thực hi n theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Cỡ chữ