vanban.org

Bản án 11/2021/DS-PT — Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

TAND tỉnh Quảng Trị Tuyên án 26/01/2021 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 26/01/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

ờng vụ Quốc hội quy định về án phí lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện củ nguyên đơn Ông Hồ Sỹ A và bà Hoàng Thị T. Buộc Bà Hồ Thị B phải trả cho Ông Hồ Sỹ A và bà Hoàng Thị T quyền sử dụng đất diện tích 535,0m2, (trong đó 200,0 m2 đất ở, 335,0 m2 đất v ờn) thử đất số 488, tờ bản đồ số 15 và tài sản gắn liền với đất 01 ngôi nhà cấp 04 theo g… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản — án dân sự — "hồ sỹ A - Hồ Thị B"
  • Tòa quyết gì? ờng vụ Quốc hội quy định về án phí lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 6 Luật nhà ở; Bộ luật ố tụng d n sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2021/DS-PT
Ngày: 26/01/2021
“V/v tranh chấp đòi lại tài sản là
nhà và quyền sử dụng đất”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Thu Hà;

Các Thẩm phán:

Bà Nguyễn Thị Hà;

Ông Lê Thiết Hùng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Nhật Ánh -

n n n d n tỉnh Quảng Trị.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thúy - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 01 năm 2021, tại Hội tr ờng xét xử - Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 18/2020/TLPT-DS ngày 21 tháng 10 năm 2020 về việc về việc “Tranh chấp đòi lại tài sản là nhà và quyền sử dụng đất”. Theo Quyết địn đ vụ án ra xét xử số 26/2020/QĐXXPT-DS ngày 20 tháng 11 năm 2020, giữ c c đ ơng sự:

1. Nguyên đơn: Ông Hồ Sỹ A, bà Hoàng Thị T; địa chỉ: Thôn V, xã T, huyện P, tỉnh Quảng Trị, có mặt.

2. Bị đơn: Bà Hồ Thị B; địa chỉ: Thôn V, xã T, huyện P, tỉnh Quảng Trị, có mặt.

Ng ời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn Bà Hồ Thị B: Luật s Nguyễn Văn K - Công ty Luật K Nguyễn; địa chỉ: Số 32 L, p ờng X, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, có mặt.

3. Ng ời có quyền lợi ng ĩ vụ liên quan:

- Bà Đoàn ị M; địa chỉ: Thôn V, xã T, huyện P, tỉnh Quảng Trị, có mặt.

4. Ng ời làm chứng:

- UBND xã T, huyện P, tỉnh Quảng Trị.

Ng ời đại diện hợp pháp của UBND xã T: Ông Hoàng Văn A – Phó chủ tịch UBND xã T, có mặt.

- Bà Hồ Thị M; địa chỉ: ôn Đ, xã T, huyện P, tỉnh Quảng Trị, có mặt.

- Ông Hoàng Văn S; địa chỉ: UBND xã T, huyện P, tỉnh Quảng Trị, có mặt.

- Bà Hồ Thị S; địa chỉ: Thôn L, xã G, huyện P, tỉnh Quảng Trị, có mặt.

- Ông Hồ Sỹ S; địa chỉ: Thôn V, xã T, huyện P, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.

- Đoàn ị D; địa chỉ: Khu phố 4, p ờng 3, thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.

- Ông Hồ Sỹ C; địa chỉ: 159/1 đ ờng Liên khu 5-6, khu phố 10, p ờng Bình H ng H B, quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày:

Ông Hồ Sỹ S (Bố của Ông Hồ Sỹ A) lấy vợ đầu là Bà Đoàn ị M, lấy vợ sau là bà Đoàn ị C. Ông A là con trai của ông S và bà C. Còn ông S và bà M có 03 ng ời con gái là Hồ Thị M, Hồ Thị S và Hồ Thị B.

Do các con gái bà Hồ Thị M, bà Hồ Thị S, Bà Hồ Thị B đi lấy chồng nên bà M ở một mình, bà M có nguyện vọng để vợ chồng Ông Hồ Sỹ A, bà Hoàng Thị T c ăm sóc, p ụng d ỡng bà Msau này nên ngày 04/10/2019, bà M lập Hợp đồng chuyển n ợng quyền sử dụng đất cho Ông Hồ Sỹ A, bà Hoàng Thị T gồm: 01 ngôi nhà cấp 4, diện tích 30m2 gắn liền trên đất và thử đất số 488, tờ bản đồ số 15, diện tích 535m2, trong đó 200m2 đất ở và 335m2 đất v ờn, đ ợc Ủy ban nhân dân huyện P cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CI 719319 ngày 29/6/2018 cho hộ Bà Đoàn ị M. Hợp đồng chuyển n ợng quyền sử dụng đất đã đ ợc chứng thực tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện P. Ngày 21/10/2019, Văn p ng đăng quyền sử dụng đất huyện P đã đăng t ông tin địa chính tại trang IV của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng Ông Hồ Sỹ A và Hoàng Thị T.

Sau đó, vợ chồng ông A, bà T chuyển về sống chung với bà M thì bị Bà Hồ Thị B là con gái út của bà M ngăn cản với lý do: Nhà và đất là của mẹ bà B nên bà B đ ợc quyền sống trong nhà. Việc bà B về sống trong n à đã g y cản trở sinh hoạt củ gi đìn . Ông A và bà M đã nhiều lần yêu cầu bà B ra khỏi n à n ng bà B vẫn ông đi.

Ông Hồ Sỹ A, bà Hoàng Thị T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Bà Hồ Thị B phải ra khỏi nhà, trả lại nhà và quyền sử dụng đất cho vợ chồng Ông Hồ Sỹ A, bà Hoàng Thị T.

* Bị đơn Bà Hồ Thị B trình bày:

Ông A và bà M không có quan hệ huyết thống gì. Năm 2008 bà B lấy chồng, s u đó c ồng bà B qu đời. Năm 2013 đến tháng 10/2019 bà B về sống chung và c ăm sóc bà M. Tháng 10/2019, chị gái là bà Hồ Thị M đ bà M về nhà chị M ở. Chị M, ông A dụ dỗ bà M chuyển n ợng quyền sử dụng đất và nhà cho ông A, bà T. Bà M 87 tuổi già yếu không còn minh mẫn ng e ng ời khác xúi dục.Từ tr ớc đến nay, vợ chồng ông A, bà T ông c ăm sóc, nuôi d ỡng bà M. nên bà B không đồng ý ra khỏi n à để trả lại n à và đất theo yêu cầu khởi kiện của ông A, bà T.

Đối với nguồn gốc đất, thử đất do N à n ớc cấp cho hộ bà M vào năm 1980. Bà B là thành viên của hộ gi đìn nên bà M chuyển n ợng quyền sử dụng đất cho ông A, bà T không có sự đồng ý của các thành viên trong hộ, trong đó có bà B. Hợp đồng chuyển n ợng quyền sử dụng đất bà M có điểm chỉ một ngón tay, n ng không ghi họ tên bà M là ông đúng p p luật. Chuyển n ợng quyền sử dụng đất và nhà ở của bà M với gi 5.000.000 đồng là ông đúng gi trị thực tế hiện nay. Đây là tài sản duy nhất để khi bà M ông c n là nơi để thờ tự. Vì vậy, bà B đề nghị Tòa án xem xét hủy Hợp đồng chuyển n ợng quyền sử dụng đất giữa bà Mvới ông A, bà T.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Bà Đoàn Thị M trình bày:

Về nguồn gốc thử đất: Khoảng năm 1982, bà M có mua một mản đất có ngôi nhà tạm của ông Hồ Sỹ Th và sống với b ng ời con là Hồ Thị M, Hồ Thị S và Hồ Thị B. Sau khi các con lấy chồng, năm 2012, N à n ớc và Ủy ban mặt trận Tổ Quốc Việt Nam, xã T đã ỗ trợ xây cho bà M một ngôi nhà cấp 4, mái lợp ngói với diện tích 30m2. Năm 1999, N à n ớc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ Bà Đoàn ị M. Năm 2018, N à n ớc cấp đổi sổ cho hộ bà M. Nay bà M đã già, cần ng ời c ăm sóc và thờ tự sau khi bà M qu đời nên ngày 04/10/2019, bà M tự nguyện chuyển n ợng toàn bộ tài sản của bà M gồm n à và đất cho vợ chồng con trai riêng của chồng là Ông Hồ Sỹ A và bà Hoàng Thị T. Con gái út của bà M là Bà Hồ Thị B đã lấy chồng, có nhà riêng, có con cháu, n ng đã về ở trong nhà bà M và tranh chấp, chặt cử , p n à, ăm dọa ai về trong nhà thì bà B sẽ chặt hết. Bà M đã nhiều lần yêu cầu bà B ra khỏi nhà, n ng bà B vẫn cố tình chây ì. Không chịu nổi cách sống của bà B nên bà M chuyển đến ở với ông A, bà T. Bà M để nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông A, bà T và buộc bà B ra khỏi n à để trả tài sản cho vợ chồng ông A, bà T.

* Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2020/DS-ST ngày 04/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện P quyết định:

Căn cứ oản 2 Điều 26, oản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 157 củ Bộ luật ố tụng d n sự; Điều 186, 189, 192, 193, 164, 166, 169 và Điều 206 Bộ luật dân sự; khoản 29 Điều 3; Điều 166, điểm a, d khoản 3 Điều 167, Điều 188 Luật đất đ i; Điều 4, 6; khoản 1, 2 Điều 6; khoản 1 Điều 12 và khoản 1 Điều 122 Luật nhà ở; khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy b n

ờng vụ Quốc hội xử:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện củ nguyên đơn:

- Buộc Bà Hồ Thị B giao cho Ông Hồ Sỹ A và bà Hoàng Thị T gồm các tài sản sau: 01 ngôi nhà cấp 4, diện tích 40,26m2 gắn liền trên đất và thử đất số 488, tờ bản đồ số 15, diện tích 535,0 m2, trong đó 200,0 m2 đất ở, 335,0 m2 đất v ờn, đất đã đ ợc Ủy ban nhân dân huyện Pcấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CI 719319 ngày 29/6/2018 cho hộ Bà Đoàn ị M tọa lạc tại Thôn V, xã T, huyện P, tỉnh Quảng Trị. Hợp đồng chuyển n ợng đất đã đ ợc chứng thực tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện P vào ngày 04/10/2019. Ngày 21/10/2019, Văn p ng đăng quyền sử dụng đất huyện P đã đăng t ông tin địa chính tại trang IV của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng Ông Hồ Sỹ A và Hoàng Thị T.

Ngày 09/9/2020, bị đơn Bà Hồ Thị B có đơn kháng cáo toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2020/DS-ST ngày 04/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện P với những nội dung:

Yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm tuyên hủy Hợp đồng chuyển n ợng quyền sử dụng đất giữa Bà Đoàn ị M và Ông Hồ Sỹ A, bà Hoàng Thị T vì bà B là thành viên trong hộ gi đìn của Bà Đoàn ị M tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị phát biểu ý kiến về việc chấp hành pháp luật tố tụng của Tòa án và quan điểm giải quyết vụ án như sau:

- Về thủ tục tố tụng: Thẩm p n,

, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm đã chấp àn đúng c c quy địn củ Bộ luật ố tụng d n sự; c c đ ơng sự đã t ực hiện đúng c c quyền và ng ĩ vụ, t m gi p iên t t eo c c quy địn củ Bộ luật ố tụng d n sự.

- Về nội dung: Đề ng ị Hội đồng t ử p dụng: Căn cứ oản 1 Điều 308 củ Bộ luật ố tụng dân sự không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Bà Hồ Thị B.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện củ nguyên đơn Ông Hồ Sỹ A và bà Hoàng Thị T. Buộc Bà Hồ Thị B giao lại tài sản quyền sử dụng đất diện tích 535,0 m2 thửa số 488, tờ bản đồ số 15 và tài sản gắn liền với đất là 01 ngôi nhà cấp 4 có diện tích 40,26m2 đã đ ợc Ủy ban nhân dân huyện Pcấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CI 719319 ngày 29/6/2018 cho hộ Bà Đoàn ị M tọa lạc tại Thôn V, xã T, huyện P, tỉnh Quảng Trị.

Về chi phí tố tụng và án phí: Buộc Bà Hồ Thị B phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và án phí t eo quy định của pháp luật.

* Ý kiến của Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn Bà Hồ Thị B:

Quan hệ tranh chấp vụ n này là “ ranh chấp quyền sử dụng đất”. Việc Tòa án cấp sơ t ẩm xét xử buộc Bà Hồ Thị B giao cho Ông Hồ Sỹ A và bà Hoàng Thị T 01 ngôi nhà cấp 4 và quyền sử dụng đất diện tích 535,0 m2, thử đất số 488, tờ bản đồ số 15 là ông đúng p p luật.

Về tính hợp pháp của Hợp đồng chuyển n ợng quyền sử dụng đất giữa bà Mv à ông A, bà Tthấy tuy Hợp đồng đã đ ợc chứng thực, n ng t ời điểm ký kết hợp đồng bà M sức khỏe yếu, không biết chữ, ông có ng ời làm chứng mà bà Mđ ợc ng ời khác cầm t y điểm chỉ vào hợp đồng nên về hình thức hợp đồng chuyển n ợng quyền sử dụng đất ông đúng quy định pháp luật. Còn phụ lục hợp đồng đ ợc bổ sung nội dung không rõ ràng, không có chữ ký củ c c bên nên cũng ông đúng quy định của pháp luật.

Theo hợp đồng thỏa thuận chuyển n ợng quyền sử dụng đất giá trị 5.000.000đồng, n ng t ực tế bà M c n ận số tiền này của ông A, bà T. Vì vậy, Hợp đồng chuyển n ợng quyền sử dụng đất giữa bà M và ông A, bà T là giả tạo để che dấu hợp đồng tặng cho nên bị vô hiệu.

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ghi hộ Bà Đoàn ị M, tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gồm những thành viên nào có quan hệ huyết thống và cùng sống chung tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới đ ợc chuyển n ợng cho ông A, bà T.

Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của Bà Hồ Thị B, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện củ nguyên đơn Ông Hồ Sỹ A, bà Hoàng Thị T và tuyên hợp đồng chuyển n ợng quyền sử dụng đất giữa Bà Đoàn ị M với đơn Ông Hồ Sỹ A, bà Hoàng Thị T vô hiệu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Tại phiên tòa, ông Hồ Sỹ C vắng mặt ông có l do, n ng đã có văn bản trình bày trong hồ sơ vụ n. Ng ời làm chứng ông Hồ Sỹ S, bà Đoàn Thị D vắng mặt tại p iên t , n ng có đơn in t ử vắng mặt. Căn cứ Điều 229 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án.

Về Xác định quan hệ tranh chấp:

Ông Hồ Sỹ A và bà Hoàng Thị T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Bà Hồ Thị B phải ra khỏi nhà để trả lại nhà và quyền sử dụng đất cho ông A, bà T. Tòa án cấp sơ t ẩm c định quan hệ tranh chấp “Chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc thực hiện quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất” là không đúng quan hệ pháp luật tranh chấp. Đ y là qu n ệ “Tranh chấp đòi lại tài sản là nhà và quyền sử dụng đất” theo khoản 2 Điều 26 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Xét kháng cáo của bị đơn Bà Hồ Thị B, Hội đồng xét xử thấy:

Về nguồn gốc diện tích đất 535m2, thửa số 488, tờ bản đồ số 15 và tài sản gắn liền với đất là nhà ở cấp 04 của Bà Đoàn Thị M:

Quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ t ẩm cũng n tại phiên tòa phúc thẩm, bà M, bà Mvà bà S(con gái bà M), ng ời làm chứng ông Hồ Sỹ S (chồng bà M), bà Đoàn ị D, ông Hoàng Văn S và trình bày của bà B đều c định nguồn gốc diện tíc đất 535m2, thửa số 488, tờ bản đồ số 15, tại thôn 2, xã T, huyện P có nguồn gốc do bà M nhận chuyển n ợng quyền sử dụng đất và ngôi nhà tạm lợp tranh, t ờng bằng p ên đất của ông Hồ Sỹ Thnăm 1982. Tại trang số 223, sổ mục kê của UBND xã T lập ngày 04/8/1995 thể hiện thử đất 107, tờ bản đồ số 11, diện tích 521m2 (trong đó 200m2 đất ở và 321m2 đất v ờn), chủ sử dụng đất là Bà Đoàn ị M. Ngày 12/4/1999 UBND huyện P cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số O 690277 cho hộ Bà Đoàn ị M với tổng diện tích 1.199m2, thửa số 107, tờ bản đồ số 11, trong đó có 620 m2 đất 2 lúa, 59m2 đất 01 lúa, 34m2 đất màu. Ngày 29/6/2018, UBND huyện Pcấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CI 719319 cho hộ Bà Đoàn ị M với tổng diện tích 535,0m2 tại thửa số 488, tờ bản đồ số 15 (trong đó 200m2 đất ở, 335,0m2 đất trồng c y àng năm c).

Tại biên bản xác minh tại UBND xã T và tại phiên tòa phúc thẩm bà B xác định ngày 11/11/1988 Bà Hồ Thị B đăng

ết hôn với ông Võ Văn D tại UBND xã T và không còn sống chung với bà M từ thời điểm này. Bà M đi lấy chồng năm 1986 và bà S đi lấy chồng năm 1991. Theo biên bản xác minh tại Công an xã T và Công an huyện P c định thời điểm ngày 12/4/1999 UBND huyện P cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà M thì hộ gi đìn c ỉ có Bà Đoàn ị M là chủ hộ, không có thành viên hộ gi đìn .

Đối với nhà ở cấp 04 gắn liền với quyền sử dụng đất diện tích 535,0m2 tại thửa số 488, tờ bản đồ số 15, Hội đồng xét xử thấy năm 2013, do bà M có hoàn cảnh neo đơn, nhà cửa tạm bợ nên các nhà hảo t m đã hỗ trợ xây 01 ngôi nhà với diện tích khoảng 30m2 cho bà M. Năm 2019, các nhà hảo tâm tiếp tục hỗ trợ cho bà M sửa chữa ngôi nhà.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bà B cho rằng khi bà B khoảng 09 tuổi có đi ở cho một ng ời ở chợ S, xã T c o đến năm 15 tuổi có gửi tiền về phụ cho bà M mua nhà đất của ông Th. Quá trình giải quyết phúc thẩm, bà B cung cấp bản trình bày của ông Hồ Sỹ C và yêu cầu Tòa án triệu tập ông Cvới t c c là ng ời làm chứng. eo văn bản xác nhận ông C trìn bày năm 2017 ông C thấy nhà của bà B xuống cấp nên ông C và một số ng ời bạn quyên góp y n à tìn t ơng c o bà B để nuôi mẹ già là bà M. Tổng số tiền xây dựng là 80.000.000đồng. Sau khi hoàn thiện, ông C bàn giao nhà cho bà B với mục đíc c o bà B có nơi nuôi mẹ già hoặc để làm nhà thờ kèm t eo điều kiện bà B chỉ đ ợc sử dụng và quản l n à, ông đ ợc quyền chuyển n ợng n à. Đến khi bà Mmất t ì ngôi n à đ ợc xử l t eo quy định pháp luật. Hội đồng xét xử thấy, quá trình giải quyết vụ án cấp sơ t ẩm bà B không cung cấp tài liệu bản trình bày của ông C, ơn nữa bản trình bày ý kiến của ông C c đ ợc cơ quan có thẩm quyền nào xác nhận. Bà B cũng ông cung cấp đ ợc tài liệu chứng cứ chứng minh bà B đi ở gửi tiền về cho bà M mu n à đất và tài liệu chứng cứ chứng minh ngôi nhà cấp 04 trên do ông C xây dựng và có biên bản bàn gi o có điều kiện n bản trình bày của ông C nên Hội đồng xét xử ông có cơ sở xem xét chấp nhận.

eo quy địn Điều 173, Điều 242 Bộ luật dân sự năm 1995; Điều 205, Điều 206 Bộ luật dân sự năm 2015 và tại khoản 29 Điều 3 của Luật Đất đ i năm 2013 quy định thì diện tích 535,0m2 tại thửa số 488, tờ bản đồ số 15 và tài sản gắn liền với đất là ngôi nhà cấp 4 đ ợc UBND huyện P cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CI 719319 ngày 29/6/2018 cho hộ Bà Đoàn ị M là thuộc quyền sử dụng đất và quyền địn đoạt tài sản của bà M.

Về Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất giữa Bà Đoàn Thị M với Ông Hồ Sỹ A, bà Hoàng Thị T:

Theo Hợp đồng chuyển n ợng quyền sử dụng đất ngày 4/10/2019, bà M chuyển n ợng quyền sử dụng đất diện tích 535,0m2 tại thửa số 488, tờ bản đồ số 15 tại thôn 2, xã T, P, Quảng Trị cho ông A và bà T theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CI 719319 ngày 12/4/1999 cho hộ Bà Đoàn ị M. Hợp đồng chuyển n ợng quyền sử dụng đất ghi: Nguồn gốc sử dụng: Nhận chuyển n ợng đất đ ợc N à n ớc gi o đất có thu tiền sử dụng đất. Giá chuyển n ợng: 5.000.000đồng. Hợp đồng chuyển n ợng quyền sử dụng đất đ ợc ông A, bà T ký và ghi rõ họ tên, còn bà M điểm chỉ, n ng ông g i ọ tên. Bản Phụ lục Hợp đồng thể hiện Bà Đoàn Thị M chuyển n ợng tài sản gắn liền với đất là ngôi nhà cấp 04, t ờng xây mái ngói với diện tích 30m2 cho ông A, bà T. Ngày 4/10/2019, Chủ tịch UBND xã T chứng thực số 47 quyển số 01/2019-SC /HĐ,GD t ể hiện: Tại thời điểm chứng thực, các bên tham gia hợp đồng, giao dịch minh mẫn, nhận thức và làm chủ đ ợc hành vi của mình, tự nguyện thỏa thuận giao kết hợp đồng và đã , điểm chỉ vào hợp đồng tr ớc mặt Chủ tịch UBND xã T. Điều 36 Nghị định 23/2015/NĐ-CP quy định các bên tham gia hợp đồng, giao dịch phải tr ớc mặt ng ời thực hiện chứng thực. r ờng hợp ng ời yêu cầu chứng thực ông đ ợc thì phải điểm chỉ. Tuy nhiên, tại phiên tòa bà M, các con bà M, bà S và đại điện UBND xã T cho rằng tại thời điểm lập hợp đồng chuyển n ợng quyền sử dụng đất ngày 4/10/2019 có con gái bà M và bà M biết chữ, biết đọc, biết viết, n ng ngày 4/10/2019 do thời tiết lạnh bà M viết ó nên để cho bà M điểm chỉ. Bà M cho rằng giữa hai bên thỏa thuận chuyển n ợng nhà và quyền sử dụng đất cho ông A, bà T gi 5.000.000 đồng với nguyện vọng chuyển n ợng hợp pháp cho ông A, bà T để ông A, bà T c ăm sóc bà M khi còn sống và có ng ĩ vụ thờ tự khi bà M qu đời, thực tế bà M không nhận số tiền 5.000.000đồng của ông A, bà T. Tại phiên tòa, bà M tiếp tục có nguyện vọng đ ợc chuyển n ợng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất trên cho ông A, bà T. Căn cứ Điều 401 Điều 502, Điều 503 BLDS 2015; khoản 3 Điều 167, Điều 188 Luật Đất đ i 2013 quy định thì Hợp đồng chuyển n ợng Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 04/10/2019 đã có hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm đăng vào sổ địa chính nên ngày 21/10/2019 Văn p ng đăng quyền sử dụng đất huyện Pđã đăng t ông tin địa chính tại trang IV của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng Ông Hồ Sỹ A và Hoàng Thị T là đúng pháp luật. Bà B tự ý sử dụng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất trên của ông A, bà T là ông có căn cứ pháp luật.

Vì vậy, Tòa án cấp sơ t ẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện củ nguyên đơn Ông Hồ Sỹ A và Hoàng Thị T. Buộc bị đơn Bà Hồ Thị B trả cho Ông Hồ Sỹ A, bà Hoàng Thị T quyền sử dụng đất diện tích 535,0m2 và tài sản gắn liền với đất 01 ngôi nhà cấp 04, thử đất số 488, tờ bản đồ số 15 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CI 719319 ngày 29/6/2018 của UBND huyện P cấp cho hộ Bà Đoàn ị M và ngày 21/10/2019, Văn p ng đăng quyền sử dụng đất huyện P đã đăng t ông tin địa chính tại trang IV của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng Ông Hồ Sỹ A và Hoàng Thị T là có cơ sở.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy cần chấp nhận qu n điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị; không chấp nhận ý kiến của Luật s bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Bà Hồ Thị B và không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Bà Hồ Thị B. Giữ nguyên bản án sơ t ẩm.

Về án phí và chi phí tố tụng:

Căn cứ khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 148, Điều 157 của Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 1 Điều 26; điểm a khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy b n t ờng vụ Quốc hội quy định án phí, lệ phí. Bị đơn Bà Hồ Thị B phải chịu án phí dân sự sơ t ẩm số tiền 300.000đồng và án phí dân sự phúc thẩm số tiền 300.000đồng, n ng đ ợc trừ vào số tiền 300.000đồng đã nộp tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm theo biên lai thu tiền số 0004655 ngày 22/9/2020. Bị đơn Bà Hồ Thị B tiếp tục nộp số tiền 300.000đồng.

Bà Hồ ị B p ải c ịu số tiền 600.000đồng c i p í em t t ẩm địn tại c ỗ, n ng do Ông Hồ Sỹ A và bà Hoàng ị số tiền c i p í em t t ẩm địn nên Bà Hồ ị B p ải trả c o Ông Hồ Sỹ A và bà Hoàng ị số tiền c i p í em t t ẩm địn tại c ỗ là 600.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 308 BLTTDS, Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Bà Hồ Thị B và giữ nguyên bản n sơ t ẩm.

2. Căn cứ oản 2 Điều 26, oản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 148 củ Bộ luật ố tụng d n sự; Điều 116, Điều 118 Bộ luật dân sự 1995; Điều 166, Điều 205, Điều 206, Điều 401, Điều 500, Điều 501, Điều 502, Điều 503 Bộ luật dân sự năm 2015 và khoản 29 Điều 3, Điều 179, Điều 188 của Luật Đất đ i năm 2013; Điều 4, khoản 1, 2 Điều 6; khoản 1 Điều 12 và khoản 1 Điều 122 Luật nhà ở; khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy b n

ờng vụ Quốc hội quy định về án phí lệ phí Tòa án. Xử:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện củ nguyên đơn Ông Hồ Sỹ A và bà Hoàng Thị T.

- Buộc Bà Hồ Thị B phải trả cho Ông Hồ Sỹ A và bà Hoàng Thị T quyền sử dụng đất diện tích 535,0m2, (trong đó 200,0 m2 đất ở, 335,0 m2 đất v ờn) thử đất số 488, tờ bản đồ số 15 và tài sản gắn liền với đất 01 ngôi nhà cấp 04 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CI 719319 ngày 29/6/2018 của UBND huyện Pcấp cho hộ Bà Đoàn ị M và ngày 21/10/2019, Văn p ng đăng quyền sử dụng đất huyện P đã đăng t ông tin địa chính tại trang IV của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng Ông Hồ Sỹ A và Hoàng Thị T.

3. Về án phí và c i p í tố tụng:

- Bà Hồ ị B p ải c ịu số tiền 300.000đồng n p í d n sự sơ t ẩm, số tiền 300.000đồng n p í d n sự p úc t ẩm, n ng đ ợc trừ vào số tiền đã nộp tạm ứng n p í p úc t ẩm 300.000đồng t eo biên l i t u tiền số biên l i t u tiền số 0004655 ngày 22/9/2020 củ C i cục t i àn n d n sự uyện P. Bà Hồ ị B tiếp tục nộp số tiền 300.000đồng.

Bà Hồ ị B p ải c ịu số tiền 600.000đồng c i p í em t t ẩm địn tại c ỗ, n ng do Ông Hồ Sỹ A và bà Hoàng ị số tiền c i p í em t t ẩm địn nên Bà Hồ ị B p ải trả c o Ông Hồ Sỹ A và bà Hoàng ị số tiền c i p í em t t ẩm địn tại c ỗ là 600.000 đồng.

- Hoàn trả c o Ông Hồ Sỹ A và bà Hoàng ị số tiền 300.000đồng nộp tạm ứng n p í d n sự sơ t ẩm t eo biên l i t u tiền số 0004540 ngày 31/12/2019 củ C i cục t i àn n d n sự uyện P.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án củ ng ời đ ợc t i àn n c o đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.

r ờng hợp bản án, quyết địn đ ợc t i àn t eo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự t ì ng ời đ ợc thi hành án dân sự, ng ời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị c ỡng chế t i àn n t eo quy định tại c c Điều 6,7, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu t i àn n đ ợc thực hiện t eo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực ể từ ngày tuyên n./.

Cỡ chữ