vanban.org

Bản án 11/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định Tuyên án 05/05/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép vật liệu nổ”.

Giao bị cáo Hoàng Văn H cho UBND xã H, huyện H, tỉnh Nam Định giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo chuyển nơi cư trú thì việc giám sát giáo dục được thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý v… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Văn H - phạm tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ (điều 305 Luật sửa đổi, bổ sung…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép vật liệu nổ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 305 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRỰC NINH
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2020/HSST.
Ngày 05 tháng 5 năm 2020.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Bùi Văn Dũng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Chuyết.

Bà Đoàn Thị Dịu.

Thư ký phiên toà: Ông Đào Đức Tài - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trực Ninh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thuần - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 5 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 14/2020/TLST- HS ngày 16 tháng 03 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2020/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 4 năm 2020, đối với bị cáo:

Hoàng Văn H, sinh năm 1993 tại Nam Định; Nơi ĐKHKTT: Xã H, huyện H, tỉnh Nam Định; Nơi cư trú: Xóm 9, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định; Nghề nghiệp: Thợ mộc; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Trình độ văn hóa: 9/12; Con ông: Hoàng Văn T, sinh năm 1966; Con bà: Hoàng Thị N, sinh năm 1972; Gia đình có 4 anh em, bị cáo là thứ 2; Vợ: Đỗ Thị T, sinh năm 1998; Có 01 con sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/12/2019 đến ngày 06/12/2019, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” (có mặt).

Những người làm chứng:

- Ông Trần Văn N - Sinh năm 1968; Nơi cư trú: Xóm 7, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định. (Vắng mặt không lý do)

- Ông Trần Văn H - Sinh năm 1979; Nơi cư trú: Xóm K, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định. (Vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hoàng Văn H có quen biết một người tên P nhà ở xã T, huyện T, tỉnh Nam Định do P đến nhờ H đóng cửa gỗ. Trong khi nói chuyện, biết P có pháo nổ, H hỏi xin P pháo để đốt vào dịp Tết thì P đồng ý. Ngày 01/12/2019 P đến nhà H nhưng H đi vắng nên P để lại số điện thoại 0981537971 để liên lạc. Khi H về nhà gọi điện lại cho P thì P hẹn ngày 03/12/2019 đến nhà P để đo cửa. Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 03/12/2019 H đi xe máy BS 18B1-981.82 đến xã T, do không biết nhà P nên H đã điện thoại cho P ra đón. Trên đường đi P bảo H là P phải đi có việc nên sẽ đưa pháo cho H cầm về rồi chiều quay lại đo cửa cho P. H đồng ý, P dẫn H đến một bụi cây ở ven đường và P lấy ra 01 túi nilon màu đen. P mở túi lấy ra một túi nilon màu đen khác rồi nói: “Trong túi này là pháo anh cho người khác, còn trong đây là giàn pháo 36 quả và một ít thuốc pháo anh cho chú cầm về trước rồi chiều xuống đo cửa cho anh sau”. H cầm túi nilon màu đen kiểm tra thì thấy bên trong có 01 giàn pháo loại 36 quả và 01 túi nilon màu cam bên trong đựng thuốc pháo. H để túi đựng pháo và thuốc pháo ở gác ba ga xe máy rồi điều khiển xe quay về, còn P đi xe máy ra hướng quốc lộ 37B. Khoảng 11 giờ 15 phút ngày 03/12/2019, khi H đang đi xe máy trên địa bàn xóm K, xã T thì bị Công an huyện Trực Ninh phát hiện bắt quả tang.

Vật chứng thu giữ:

- Thu tại gác ba ga xe máy BS 18B1-981.82 do H điều khiển có 01 túi nilon màu cam bên trong có túi nilon chứa chất bột màu xám ký hiệu P1 và 01 túi nilon màu đen bên trong có 01 giàn pháo loại 36 quả hình hộp vuông ký hiệu P2.

- 01 xe máy BS 18B1-981.82 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A3s màu đỏ của H.

Khám xét khẩn cấp nơi ở của H: Thu giữ 01 chứng minh thư nhân dân mang tên Hoàng Văn H.

Kết luận giám định số: 1085/KTHS ngày 05/12/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định xác định: Mẫu ký hiệu P1 là thuốc pháo (thành phần chính gồm KCl03, NaClO3, C, S), tổng khối lượng là 1,137 kg. Mẫu ký hiệu P2 là pháo, có đặc tính của pháo nổ (chứa thuốc pháo và khi đốt có gây tiếng nổ), tổng khối lượng là 1,819 kg.

Tại cơ quan điều tra, Hoàng Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.

Tại bản cáo trạng số: 13/CT-VKS-KSĐT ngày 16 tháng 03 năm 2020 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định đã truy tố bị cáo Hoàng Văn H về tội: “Tàng trữ trái phép vật liệu nổ” theo khoản 1 Điều 305 BLHS.

Tại phiên tòa: Bị cáo Hoàng Văn H đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nhận xét trên, bị cáo ăn năn hối cải, xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trực Ninh giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo theo tội danh và điều luật như bản Cáo trạng đã công bố và đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Hoàng Văn H phạm tội: “Tàng trữ trái phép vật liệu nổ” theo khoản 1 Điều 305 BLHS.

Căn cứ khoản 1 Điều 305 BLHS, điểm s, điểm h khoản 1; khoản 2 Điều 51, Điều 65BLHS: Đề nghị HĐXX xử phạt Hoàng Văn H mức án từ 15 tháng đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng đến 36 tháng, thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (bị cáo đã bị tạm giữ từ ngày 03/12/2019 đến ngày 06/12/2019).

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy số pháo, thuốc pháo đã thu giữ trong quá trình điều tra còn lại sau giám định. Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Trực Ninh, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trực Ninh, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa đều phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, lời khai của nhân chứng và các chứng cứ tài liệu khác trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở kết luận: Hoàng Văn H đã có hành vi tàng trữ 1,137 kg thuốc pháo với mục đích làm pháo đốt trong dịp Tết. Hành vi tàng trữ 1,137 kg thuốc pháo của bị cáo Hoàng Văn H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép vật liệu nổ” theo quy định tại khoản 1 Điều 305 BLHS như cáo trạng VKSND huyện Trực Ninh đã truy tố đối với bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu, tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, ăn năn hối cải, bị cáo là lao động chính trong gia đình, gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, vợ không có nghề nghiệp ổn định, có con còn nhỏ nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51BLHS.

Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo và đề nghị của Viện kiểm sát. HĐXX xét thấy; Bị cáo phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, hành vi phạm tội của bị cáo gây hậu quả không lớn đối với trật tự xã hội xét thấy về hình phạt không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội cho bị cáo được cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát của chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú theo Điều 65 BLHS cũng đảm bảo việc giáo dục cải tạo bị cáo và công tác phòng chống tội phạm nói chung trên địa bàn.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định, gia đình hoàn cảnh khó khăn, con còn nhỏ, xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số thuốc pháo và pháo đã thu giữ trong quá trình điều tra còn lại sau giám định.

Đối với người đàn ông tên P: Cơ quan CSĐT Công an huyện Trực Ninh đã tiến hành xác minh nhưng không có đối tượng nào tên P nhà ở xã T, huyện T, tỉnh Nam Định có đặc điểm như H khai.

Đối với số điện thoại 0981537971: Qua xác minh người đang sử dụng số điện thoại trên là chị Bùi Thị Q, sinh năm 1985 (trú tại xóm 9, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định). Chị Q khai mua số điện thoại 0981537971 để sử dụng từ ngày 07/01/2020. Tra cứu thông tin người đăng ký thuê bao 0981537971 là ông Chu Văn T, sinh năm 1958 (trú tại xóm 3, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định), ông T khai chưa bao giờ sử dụng số điện thoại 0981537971 và cũng chưa bao giờ cho người khác mượn chứng minh nhân dân của mình để đăng ký số điện thoại.

Do vậy Cơ quan CSĐT Công an huyện Trực Ninh không xác định được nhân thân đối tượng tên P để xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với chiếc xe máy BS 18B1-981.82: H mượn của bố vợ là ông Đỗ Văn K, ông K không biết việc H dùng xe máy này để chở thuốc pháo và pháo nên cơ quan CSĐT đã trả lại xe máy trên cho ông K là đúng quy định.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A3s màu đỏ và 01 chứng minh thư nhân dân của Hoàng Văn H không liên quan đến hành vi phạm tội, cơ quan CSĐT đã trả lại cho H.

Đối với hành vi tàng trữ trái phép 1,819 kg pháo nổ, chưa đến mức xử lý hình sự, Công an huyện Trực Ninh đã ra quyết định xử lý Hoàng Văn H bằng biện pháp hành chính là đúng quy định pháp luật.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép vật liệu nổ”.

Căn cứ khoản 1 Điều 305 BLHS; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 BLHS; Xử phạt Hoàng Văn H 18 (mƣời tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 (ba mƣơi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 05 tháng 05 năm 2020). Bị cáo đã bị tạm giữ từ ngày 03/12/2019 đến ngày 06/12/2019.

Giao bị cáo Hoàng Văn H cho UBND xã H, huyện H, tỉnh Nam Định giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo chuyển nơi cư trú thì việc giám sát giáo dục được thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Vật chứng:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số thuốc pháo và pháo nổ thu giữ của Hoàng Văn H còn lại sau giám định được đựng trong thùng cát tông có niêm phong của Phòng KTHS Công an tỉnh Nam Định (toàn bộ vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng số: 26/THA ngày 16 tháng 03 năm 2020 giữa CQCSĐT Công an huyện Trực Ninh với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định).

3. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Hoàng Văn H phải nộp 200.000 đồng.

Bị cáo Hoàng Văn H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 luật thi hành án dân sự, thì Bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ