- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
- Tòa quyết gì? 1/ Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phan Văn H phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 11/2020/HSST Ngày: 22/4/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI - TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Chu Thị Linh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Mã Siêu.
Ông Trần Văn Hiểu.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trung Hiếu - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Nhất - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 4 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số:12/2020/TLST- HS ngày 12 tháng 3 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2020/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 3 năm 2020 đối với bị cáo:
Phan Văn H, sinh ngày 20/4/1979 tại xã T, huyện X, tỉnh Thái Bình.
Nơi cư trú: Thôn G, xã T, huyện X, tỉnh Thái Bình. Chỗ ở hiện nay: Thôn L, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn H và bà Trần Thị H; vợ là Trần Thị H và có 01 con; tiền sự: không; tiền án: có 01 tiền án, tại bản án hình sự sở thẩm số 72/2017/HSST ngày 08/12/2017 Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình xử phạt bị cáo 01 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/12/2019 đến ngày 20/12/2019 chuyển tạm giam. Bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Tiền Hải, được trích xuất có mặt tại phiên tòa.
+ Người làm chứng:
- Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1985 (Vắng mặt)
Nơi cư trú: Thôn Q, xã T, huyện H, Thái Bình.
- Ông Nguyễn Thái B, sinh năm 1955 (Vắng mặt)
Nơi cư trú: Thôn C, xã T, huyện H, Thái Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do nghiện ma túy nên khoảng 09 giờ 00 ngày 17/12/2019 H đi nhờ xe mô tô của một người đi đường ra khu vực chợ N thuộc xã N, huyện H, tỉnh Thái Bình mục đích tìm mua ma túy để sử dụng. Khi đi đến chợ N, H gặp 01 người phụ nữ khoảng 50 tuổi không biết tên, địa chỉ hỏi mua 100.000 đồng ma túy, người phụ nữ này nhận 100.000 đồng tiền H đưa sau đó đưa lại cho H 01 gói bên ngoài được gói bằng giấy tráng kim màu trắng. Do sử dụng ma túy nên H biết đó là ma túy, H cầm gói ma túy vừa mua được ở lòng bàn tay trái và đi về. Khi đi đến khu vực đường đê biển số 06 thuộc địa phận thôn L, xã T, huyện Tiền Hải thì bị Đồn Biên phòng Cửa Lân thuộc Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Thái Bình phát hiện đưa H và mời những người làm chứng về trụ sở Uỷ ban nhân dân xã T việc. Tại đây trước sự chứng kiến của chính quyền địa phương và để làm người làm chứng H đã tự giác giao nộp từ trong lòng bàn tay trái 01 gói nhỏ được gói bằng giấy tráng kim màu trắng, bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng H khai là ma túy mua về với mục đích để sử dụng. Đồn Biên phòng Cửa Lân thuộc Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Thái Bình đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản quản lý và niêm phong số vật chứng nêu trên. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Phan Văn H lực lượng chức năng không thu giữ đồ vật, tài sản gì.
Tại bản Kết luận giám định số 475/KLGĐ- PC09 ngày 17/12/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: Mẫu vật gửi giám định là ma túy, loại Hêrôin, có khối lượng 0,2159 gam.
Tại bản cáo trạng số 14/CT-VKSTH ngày 11/3/2020 Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Phan Văn H về tội: “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c, khoản 1 điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận: “Do bị nghiện ma túy nên vào hồi 09 giờ ngày 17/12/2019 bị cáo đi từ nhà ra khu vực chợ N mục địch tìm mua ma túy để sử dụng. Khi đến nơi bị cáo gặp một người phụ nữ khoảng 50 tuổi không biết tên, địa chỉ, bị cáo hỏi người đó có ma túy không và người đó nói có, bị cáo hỏi mua gói ma túy loại Heroine với giá 100.000đồng. Sau khi mua được ma túy, bị cáo dấu ở lòng bàn tay trái và đi về nhà với mục đích để sử dụng thì bị lực lượng chức năng phát hiện bắt quả tang”.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm c khoản 1 điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51, điểm h khoản 1 điều 52, điều 38, điều 50 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phan Văn H từ 01 (Một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (Hai) năm tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về vật chứng: Áp dụng điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; điều 47 Bộ luật Hình sự: Tịch thu tiêu hủy số Heroine đã thu giữ của bị cáo sau khi hoàn giám định còn lại là 0,1993 gam.
- Về án phí: Áp dụng điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23,Nghị quyết số 326 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, Bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với Kiểm sát viên về bản luận tội.
Kết thúc phần tranh luận bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố vụ án được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền, trình tự, thủ tục. Bị cáo và những người làm chứng không khiếu nại hay có ý kiến gì. Nên các hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án này là hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai trong giai đoạn điều tra, truy tố và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án như:
- Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Đồn Biên phòng Cửa Lân thuộc Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Thái Bình lập hồi 10 giờ 00 ngày 17/12/2019 ;
- Biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu do Đồn Biên phòng Cửa Lân thuộc Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Thái Bình lập ngày 17/12/2019;
- Bản kết luận giám định số 475/KLGĐ-PC09 ngày 17/12/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: Mẫu vật gửi giám định là ma túy, loại Hêrôin, có khối lượng 0,2159 gam.
- Lời khai của những người làm chứng là anh Nguyễn Văn Q và ông Nguyễn Thái B.
Từ những tình tiết và chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 17/12/2019 tại khu vực đường đê biển số 06 thuộc địa phận thôn Đ, xã T, huyện H, Đồn Biên phòng Cửa Lân thuộc Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Thái Bình phát hiện bắt quả tang Phan Văn H có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói Heroine có khối lượng 0,2159 gam, mục đích để sử dụng.
Hành vi của bị cáo đã phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật Hình sự như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tội phạm thuộc trường hợp nghiêm trọng.
Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định:
1. “ Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) ……………………………………………………………………………
c) Heroine, côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
…………………………………………………………………………………………
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
. Đánh giá tính chất, mức độ H quả hành vi phạm tội của bị cáo: Xét thấy, hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của nhà nước, làm suy thoái nòi giống con người, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự và an toàn xã hội tại địa phương.
. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo: Bị cáo nhân thân xấu, có 01 tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về tình tiết tăng năng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phải chịu một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật Hình sự là “Tái phạm”.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự : Trong giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo có bố đẻ được tặng thưởng Huy chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng nhất. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật Hình sự.
. Về hình phạt:
. Về hình phạt chính: Trong lúc Đảng và Nhà nước ta đang kiên quyết đấu tranh với tệ nạn ma túy để đẩy lùi ma túy ra khỏi đời sống xã hội. Bị cáo là người đã trưởng thành có đầy đủ khả năng nhận thức được tác hại của ma túy, bị cáo đã bị Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nhưng sau khi chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương, bị cáo không chịu tu chí cai nghiện mà lại tiếp tục mua ma túy về để sử dụng. Do đó, hành vi của bị cáo cần thiết phải xử phạt bằng hình phạt tù, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội do bị cáo gây ra mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét đến tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để giảm nhẹ một phần mức hình phạt tù cho bị cáo như đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa và thể hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội.
. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, bị cáo là người nghiện ma túy, không có việc làm ổn định, bị cáo tàng trữ ma túy không nhằm mục đích bán kiếm lời nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng của vụ án: Số Heroine thu giữ của bị cáo sau khi hoàn giám định còn lại là 0,1993 gam đây là loại nhà nước cấm tàng trữ nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
. Về nguồn gốc số Heroine: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo khai số Heroine cơ quan Công an thu giữ của bị cáo là do bị cáo mua của một người phụ nữ không biết tên, tuổi và địa chỉ tại khu vực chợ Nam Hưng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tiền Hải đã tiến hành điều tra, xác minh nhưng không có căn cứ để xử lý.
. Về án phí: Bị cáo Phan Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51, điểm h khoản 1 điều 52, điều 50, điều 38, điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 điều 106, khoản 2 điều 136; điều 331, điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
1/ Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phan Văn H phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2/ Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phan Văn H 01 (Một) năm 09 (chín) tháng tù.Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 17/12/2019.
3/ Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy sau khi đã hoàn giám định còn lại là 0,1993 gam Heroine được niêm phong trong phong bì số 475/KLGĐ.
(Vật chứng của vụ án đã được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Tiền Hải theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/3/2020 giữa Công an huyện Tiền Hải và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiền Hải).
4/ Về án phí: Bị cáo Phan Văn H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 22/4/2020.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Tiền Hải; - Công an huyện Tiền Hải; - Chi cục THADS huyện Tiền Hải; - Phòng KT Tòa án Tỉnh Thái Bình; - Bị cáo; - Lưu. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Chu Thị Linh |