- Tranh chấp gì? án hình sự — "NGUYỄN THANH VŨ "TRỘM CẮP TÀI SẢN" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên b bị cáo Nguyễn Thanh V phạm tội “ Trộm cắp tài sản”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ TỈNH G Bản án số: 11/2020/HSST Ngày 21 tháng 04 năm 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH G
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Thoa;
- Hội thẩm nhân dân:
Ông Rơ Lan Ty
Nơi công tác: Hội Nông dân huyện Đ, tỉnh G
Ông Phạm Văn Miền
Cán bộ hưu trí
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Minh Chinh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ tham gia phiên tòa: Ông Đinh Văn Hoàng - Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 21/04/2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân ( TAND ) huyện Đ, tỉnh G xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 06/2020/HSST ngày 28 tháng 02 năm 2020, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2020/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 04 năm 2020, đối với các bị cáo:
Nguyễn Thanh V; Tên gọi khác: Không; Giới tính: N.
Sinh ngày 14/7/2001. Tại: An Khê, G
Địa chỉ: T3, thị trấn C, huyện Đ, tỉnh G
Quốc tịch: Việt N Dân tộc: Kinh
Nghề nghiệp: Làm nông
Tôn giáo: Không
Trình độ học vấn: 10/12
Cha: Nguyễn Thanh H; Mẹ: Nguyễn Thị L, chưa có vợ, con
Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo tại ngoại, đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt taị phiên tòa
Bị Viện Kiểm sát nhân dân ( VKSND ) huyện Đ, tỉnh G truy tố về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 ( BLHS ) .
- Người bị hại: Ông Bùi Xuân N
Sinh năm 1974. Vắng mặt
Địa chỉ: TDP3, TT C, huyện Đ, tỉnh G.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
+ Nguyễn Thị L
Sinh năm 1978. Có mặt
+ Trần Ngọc C
Sinh năm 1996. Vắng mặt
1
Địa chỉ: Cùng trú tại TDP3, TT C, huyện Đ, tỉnh G.
+ Nguyễn Văn T
Sinh năm 1987. Vắng mặt
Địa chỉ: TDP2, TT C, huyện Đ, tỉnh G.
+ Chu Hải Đ
Sinh năm 1993. Có mặt
Địa chỉ: TDP4, TT C, huyện Đ, tỉnh G.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ ngày 18/9/2019, Nguyễn Thanh V là nhân viên bán hàng thuê cho tiệm tạp hóa N Luyến có địa chỉ tại TDP 3, TT C, huyện Đ, tỉnh G xếp hàng theo đơn để đưa lên xe ô tô tải cho tài xế của tiệm chở đi giao cho khách. Trong lúc xếp hàng, V đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản bằng cách đánh tráo hàng hóa, V lấy một thùng đựng mì tôm trẻ em và một thùng bánh quy đồng tiến, đổ hết hàng trong hai thùng ra ngoài và xếp 60 dây dầu gội hiệu Clear và 60 dây dầu gội hiệu Sunsilk vào hai thùng, dùng băng keo dán lại và bốc xếp lên trên xe tải.
Đến 19 giờ 30 cùng ngày anh Bùi Xuân Thanh là con trai của ông N đi kiểm tra kho thì thấy trong kho có mì tôm trẻ em và các gói bánh quy đồng tiến đổ vương vãi trên nền xi măng nên đã đi kiểm tra xe tải chở hàng thì phát hiện bị đánh tráo hàng hóa. Đến sáng 19/9/2019 ông N gọi nhân viên đến hỏi sự việc trên thì V đã thừa nhận hành vi trộm cắp của mình.
Tại Cơ quan Công an huyện Đ, Nguyễn Thanh V đã thừa nhận ngoài lần trên, trong tháng 9/2019 V còn 04 lần thực hiện hành vi trộm cắp hàng hóa để bán lấy tiền tiêu xài như nội dung bản cáo trạng đã nêu.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 54 ngày 28/10/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ kết luận:
- 01 (một) cây thuốc lá nhãn hiệu Golden eagle, giá trị định giá là 70.000đ;
- 01 (một) cây thuốc lá nhãn hiệu Saigon Silver giá trị định giá là 100.000đ;
- 01 (một) dây dầu gọi nhãn hiệu Clear, giá trị định giá là 15.000đ ;
- 01 (một) dây gói dầu gội nhãn hiệu Sunsilk, giá trị định giá là 10.000đ;
- 01 (một) gói (bịch) cà phê nhãn hiệu Nescafe (loại cà phê hòa tan, gói màu đỏ, bên trong chứa 46 gói nhỏ), giá trị định giá là 90.000đ;
Giá trị từng loại tài sản yêu cầu định giá có tổng giá tiền là: 285.000 đồng (Hai trăm tám lăm nghìn đồng).
Tài sản mà Nguyễn Thanh V chiếm đoạt gồm:
+ 60 dây dầu gội Clear x 15.000 đồng/dây = 900.000 đồng
+ 120 dây dầu gội Sunsilk x 10.000 đồng/dây = 1.200.000 đồng
+ 20 cây thuốc lá Golden eagle x 70.000 đồng = 1.400.000 đồng
+ 12 cây thuốc lá Saigon Silver x 100.000 đồng = 1.200.000 đồng
+ 02 hộp Nes cafe x 90.000 đồng = 180.000 đồng
Tổng số tiền mà Nguyễn Thanh V chiếm đoạt được định giá là 4.880.000 đồng (Bốn triệu tám trăm tám mươi nghìn đồng).
2
Tại Bản Cáo trạng số: 07/CT- VKS ngày 24/02/2020 của VKSND huyện Đ, tỉnh G đã truy tố các bị cáo Nguyễn Thanh V về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử ( HĐXX ) tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh V phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS và đề nghị: Áp dụng Khoản 1 Điều 173; Điều 38,50; Điểm b,i,s khoản 1 Điều 51 BLHS: Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thanh V từ 6-9 ( sáu đến chín) tháng tù.
- Hình phạt bổ sung: Không
*Về xử lý vật chứng của vụ án:
+ 02 thùng giấy chứa 60 dây dầu gội Sunsilk và 60 dây dầu gội Clear. Đây là tài sản hợp pháp của cửa hàng tạp hóa N Luyến. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại tài sản cho ông Bùi Xuân N là có căn cứ đề nghị HĐXX chấp nhận.
+ Chiếc xe mô tô mang biểm kiểm soát 81U1-221.27 nhãn hiệu Honda, số loại Air Blade, màu sơn đen trắng, số khung 6316H019721, số máy JF63E2118824. Qua xác minh đây là xe của chị Nguyễn Thị Lê, khi mượn xe thì V nói đi chơi nhà bạn nên chị Lkhông biết việc V dùng xe mô tô của mình để sử dụng vào việc phạm tội. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe trên cho chị Llà phù hợp đề nghị HĐXX chấp nhận.
+ Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen; moden 1280; Imei 355522/05/306449/3 bên trong điện thoại không có thẻ sim. Đây là chiếc điện thoại V dùng để liên lạc với Đ và T nhờ bán tài sản trộm cắp. Đề nghị HĐXX tịch thu sung công.
*Về dân sự: Không
*Về án phí: Đề nghị HĐXX buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự theo pháp luật qui định.
Bị cáo và những người tham gia tố tụng không tranh luận gì với Bản cáo trạng của Viện Kiểm sát và luận tội của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên toà mà chỉ xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp
3
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Khoảng 18 giờ ngày 18/9/2019, Nguyễn Thanh V là nhân viên bán hàng thuê cho tiệm tạp hóa N Luyến có địa chỉ tại TDP 3, TT C, huyện Đ, tỉnh G xếp hàng theo đơn để đưa lên xe ô tô tải cho tài xế chở đi giao cho khách. Trong lúc xếp hàng, V đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản bằng cách đánh tráo hàng hóa, V lấy một thùng đựng mì tôm trẻ em và một thùng bánh quy đồng tiến, đổ hết hàng trong hai thùng ra ngoài và xếp 60 dây dầu gội hiệu Clear và 60 dây dầu gội hiệu Sunsilk vào hai thùng, dùng băng keo dán lại và bốc xếp lên trên xe tải.
Đến 19 giờ 30 cùng ngày, anh Bùi Xuân Thanh là con trai của ông N đi kiểm tra kho thì thấy trong kho có mì tôm trẻ em và các gói bánh quy đồng tiến đổ vương vãi trên nền xi măng nên đã đi kiểm tra xe tải chở hàng thì phát hiện bị đánh tráo hàng hóa. Đến sáng 19/9/2019 ông N gọi nhân viên đến hỏi sự việc trên thì V đã thừa nhận hành vi trộm cắp của mình.
Ngoài lần thực hiện hành vi nếu trên, V thừa nhận còn 04 lần thực hiện hành vi trộm cắp hàng hóa để bán lấy tiền tiêu xài trong tháng 9/2019 như sau:
-Lần thứ nhất: Vào khoảng đầu tháng 9/2019, V lấy một thùng dầu gội Sunsilk có 60 dây bỏ vào loại thùng lớn bên trong bỏ nhiều hàng hóa sau đó dán băng keo lại mang bỏ sẵn trên xe. Sáng hôm sau, anh Chu Hải Đ là nhân viên lái xe của cửa hàng tạp hóa N Luyến chở đi giao cho khách. Đến trưa cùng ngày, V biết anh Đ thường dừng ăn cơm ở quán gần cây xăng Bắc Tây Nguyên nên đã về nhà mượn xe mô tô của mẹ V là bà Nguyễn Thị L đi đến chỗ anh Đ nghỉ và bảo với anh Đ cho mượn chìa khóa để lấy đồ bỏ quên trên xe. Anh Đ đưa chìa khóa cho V, V mở thùng xe và lấy thùng dầu gội đầu mang đi bán được 400.000 đồng ( Đ không biết việc này ).
- Lần thứ hai: Cách lần thứ nhất khoảng 3-4 ngày V lấy thùng mì tôm trẻ em đổ bớt gói mì ra ngoài và xếp 05 cây thuốc lá Saigon Silver vào và dán lại bỏ lên xe, ngày hôm sau V gọi điện thoại báo Đ là trong thùng mì tôm trẻ em có thuốc lá và nhờ anh Đ bán hộ. Anh Đ biết được hàng mà V nhờ bán là tài sản của tiệm tạp hóa N Luyến nhưng vẫn đồng ý và Đ nói với V là chỉ bán giúp lần này thôi. Số tài sản Đ bán được 300.000 đồng về đưa cho V, V cho Đ 50.000 đồng.
- Lần thứ ba: Cách lần thứ hai khoảng 4-5 ngày V lấy 05 cây thuốc lá hiệu Golden Eagle và 02 hộp Nes cafe bỏ vào thùng mì tôm dán lại để trên xe. Ngày hôm sau Nguyễn Văn T là nhân viên lái xe của tiệm tạp hóa N Luyến đi giao hàng, anh T đi được một lúc thì V gọi điện báo trong thùng mì tôm có thuốc lá và cà phê nhờ anh T bán hộ. T biết số hàng hóa mà V nhờ bán là tài sản của tiệm tạp hóa N Luyến nhưng vẫn đồng ý và bán được 450.000 đồng. T về đưa cho V 250.000 đồng và T giữ 200.000đ
- Lần thứ tư: Ngày 15/9/2019, trong lúc xếp hàng V để lại 15 cây thuốc lá Golden Eagle và đưa xuống kho sau đó V đi lên quầy bán hàng lấy tiếp 7 cây thuốc lá loại Saigon Silver, nói với Trần Ngọc C ( cùng là nhân viên bán hàng ) mang xuống kho để đi bán lấy tiền uống nước thì C cũng đồng ý. Khi V xuống kho xếp hàng bốc lên xe thì V xếp 15 cây thuốc lá Golden eagle vào cùng thùng mì tôm có 7 cây thuốc lá Saigon Silver mà C mang xuống trước đó rồi dán băng keo bỏ trên xe tải. Trưa
4 ngày 16/9/2019, khi T lái xe đi giao hàng thì V điều khiển xe mô tô đến chỗ anh T dừng nghỉ, mượn chìa khóa mở cửa xe và lấy 22 cây thuốc lá mang đi bán được 1.300.000 đồng, V đưa cho C 400.000 đồng. Còn 900.000 đồng V tiêu xài cá nhân hết.
Căn cứ Kết luận định giá tài sản số 54 ngày 28/10/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ thì tài sản mà Nguyễn Thanh V chiếm đoạt của tiệm tạp hóa N Luyến gồm:
+ 60 dây dầu gội Clear x 15.000 đồng/dây = 900.000 đồng
+ 120 dây dầu gội Sunsilk x 10.000 đồng/dây = 1.200.000 đồng
+ 20 cây thuốc lá Golden eagle x 70.000 đồng = 1.400.000 đồng
+ 12 cây thuốc lá Saigon Silver x 100.000 đồng = 1.200.000 đồng
+ 02 hộp Nes cafe x 90.000 đồng = 180.000 đồng
Tổng số hàng hóa mà Nguyễn Thanh V chiếm đoạt được định giá là 4.880.000 đồng (Bốn triệu tám trăm tám mươi nghìn đồng).
Xét thấy, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm bất hợp pháp đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ; Tài sản bị cáo trộm cắp có giá trị trên bốn triệu đồng, đã đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự theo qui định tại Khoản 1 Điều 173 BLHS 2015; Tại thời điểm phạm tội, bị cáo là người đủ năng lực trách nhiệm hình sự và thực hiện tội phạm với lỗi cố ý, cần phải xử lý nghiêm khắc. Do đó, VKSND huyện Đ đã ra Cáo trạng số 07/CT- VKS ngày 24/02/2020 truy tố bị cáo theo tội danh, điều luật nêu trên là có căn cứ và đúng Pháp luật.
Xét thấy lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, HĐXX có đủ căn cứ kết luận bị cáo Nguyễn Thanh V đã phạm tội “ Trộm cắp tài sản ” qui định tại Khoản 1 Điều 173 BLHS 2015
Tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
………………..
Xét thấy bị cáo thanh niên có đầy đủ sức khỏe, nhận thức nhưng không chịu tu dưỡng bản thân mình, không chịu lao động làm ăn chính đáng mà luôn tìm cách lợi dụng sơ hở để chiếm đoạt tài sản của chủ sở hữu để thỏa mãn nhu cầu cá nhân. Chỉ trong thời gian ngắn mà bị cáo đã liên tục 5 lần trộm cắp tài sản của tiệm tạp hóa N Luyến bằng hình thức tráo hàng vô cùng tinh vi, do đó cần phải xử lý nghiêm khắc để răn đe và làm gương là cần thiết.
Tuy nhiên trước khi quyết định hình phạt cũng cần cân nhắc xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo để áp dụng hình phạt cho phù hợp với tính chất mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra
5
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo
- Tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng.
- Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có 3 tình tiết giảm nhẹ qui định tại Điểm b,i,s khoản 1 Điều 51 BLHS là “ Tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả”; “ Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”; “ Người phạm tội thành khẩn khai báo ăn năn hối cải”. Bị cáo có 1 tình tiết giảm nhẹ qui định tại khoản 2 Điều 51 là: Được chính quyền địa phương xác nhận có ông ngoại là người có công với đất nước được tặng Huy chương kháng C hạng Nhì và Kỷ niệm chương C sỹ Cách mạng bị địch bắt tù, đày
- Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự; Ngoài lần phạm tội này không có vi phạm gì khác
Do đó cũng cần xem xét giảm nhẹ 1 phần hình phạt và không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần phạt tù cho hưởng án treo giao bị cáo về cho chính quyền địa phương và gia đình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thử thách là phù hợp với tính nhân đạo của pháp luật Nhà nước
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung.
Về xử lý vật chứng của vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xác định 02 thùng giấy chứa 60 dây dầu gội Sunsilk và 60 dây dầu gội Clear là tài sản hợp pháp của cửa hàng tạp hóa N Luyến, đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 06 ngày 17/01/2020 trả lại cho ông Bùi Xuân N là có căn cứ.
- Cơ quan Cảnh sát điều tra xác định chiếc xe mô tô biển kiểm soát 81U1-221.27 nhãn hiệu Honda, loại Air Blade, màu sơn đen trắng, số khung 6316H019721, số máy JF63E2118824 là tài sản hợp pháp của chị Nguyễn Thị Lê, chị Lkhông biết V sử dụng xe mô tô vào việc phạm tội nên đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 05 ngày 17/01/2020 trả lại cho chị Llà phù hợp
- Cơ quan Cảnh sát điều tra xác định chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen; moden 1280; Imei 355522/05/306449/3, bên trong không có thẻ sim, V sử dụng để liên lạc với Đ và T nhờ bán tài sản trộm cắp nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước là đúng qui định.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Bùi Xuân N đã nhận đủ số tiền trị giá của tài sản bị mất, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên HĐXX không xem xét.
Đối với các đối tượng liên quan:
- Đối với Trần Ngọc C cùng với Nguyễn Thanh V trộm cắp 07 cây thuốc lá Saigon Silver vào ngày 15/9/2019. Kết quả định giá thì 07 cây thuốc lá này trị giá 700.000 đồng (Bảy trăm nghìn đồng). C chưa có tiền án, tiền sự gì nên hành vi của C không đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” nên Công an huyện Đ, tỉnh G đã ra Quyết định xử phạt vị phạm hành chính số 0000344 ngày 05/02/2020 đối với Nguyễn Ngọc C là phù hợp
- Đối với Chu Hải Đ, Nguyễn Văn T, khi nhận lời bán giúp V tài sản có trên xe đi giao hàng, bản thân những đối tượng này nhận thức được đó là tài sản do V trộm cắp của tiệm tạp hóa N Luyến nhưng vẫn đồng ý bán giúp. Hành vi của T, Đ có dấu hiệu của tội “ Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” tuy nhiên do giá trị tài sản do V trộm cắp sau đó nhờ Đ và T bán không lớn không đủ định lượng để xử lý V
6 về tội “ Trộm cắp tài sản” do đó hành vi của Đ, T không cấu thành tội “ Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” nên cơ Công an huyện Đ, tỉnh G ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0000348 ngày 05/02/2020 đối với Nguyễn Văn T; Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0000349 ngày 05/02/2020 đối với Chu Hải Đ là phù hợp.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật để sung vào Ngân sách Nhà nước.
Quyền kháng cáo: Những người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo bản án theo qui định của pháp luật
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên b bị cáo Nguyễn Thanh V phạm tội “ Trộm cắp tài sản”
- Áp dụng Khoản 1 Điều 173; Điều 50; Điểm b,i,s Khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, 65 của BLHS 2015: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh V: 09 ( chín ) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ( 21/04/2020 ). Tiếp tục thực hiện biện pháp “ Cấm đi khỏi nơi cư trú” cho đến khi có quyết định thi hành án.
Giao bị cáo về cho UBND TT C, huyện Đ, tỉnh G giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự. “ Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 2 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo
- Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và Điểm a Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 ( Một ) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen, moden 1280, Imei 355522/05/306449/3, bên trong không có thẻ sim ( Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/02/2020 giữa cơ quan CSĐT và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh G )
- Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015, Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:
Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung vào Ngân sách Nhà nước.
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án lên Toà án nhân dân tỉnh G để yêu cầu xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ( mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án (21/04/2020). Người bị hại, người có quyền lợi liên quan vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ( mười lăm ) ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc bản sao Bản án được niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh, STP - VKSND huyện Đ; - CA huyện Đ; - Bị cáo,; - Người Bị hại, Người LQ - Lưu HS THA; - CCTHADS - Lưu HSVA | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM 7 THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA NGUYỄN THỊ KIM THOA 8 |