- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Duy N - Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy N phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐỒNG THÁP Bản án số: 11/2020/HS-ST Ngày 14-7-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HỒNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Tựu.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Bùi Văn Sinh.
Bà Bùi Thị Lý.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Hồng Tân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Võ Văn Hiền Nhỏ - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 10/2020/TLST-HS ngày 24 tháng 6 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2020/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 7 năm 2020 đối với bị cáo:
Nguyễn Duy N, sinh năm 1981 tại tỉnh Đồng Tháp; Nơi cư trú: Ấp B, xã T, huyện K, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa (học vấn): 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Thái H, sinh năm 1950 (đã chết) và bà Nguyễn Ngọc N, sinh năm 1952; Có vợ là Nguyễn Thị Thúy P, sinh năm 1980 và 03 con (lớn nhất sinh năm 2004, nhỏ nhất sinh năm 2011); Tiền án: Không; Tiền sự: Có 01 tiền sự: Ngày 17-6-2019 bị Công an huyện Tân Hồng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc trái phép ăn thua bằng tiền (hình thức chơi đá gà ăn thua bằng tiền) với số tiền phạt là 1.500.000 đồng, đã nộp phạt xong vào ngày 19-6-2019; Bị cáo đang tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng:
1/ Nguyễn Văn L, sinh năm 1986 (vắng mặt);
2/ Nguyễn Thị H, sinh năm 1980 (vắng mặt);
3/ Nguyễn Khắc S, sinh năm 1994 (vắng mặt).
Cùng cư trú: Ấp B, xã T, huyện K, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 14-01-2020, Nguyễn Duy N lấy 06 hột xí ngầu, 01 cái đĩa bằng sành và 01 cái hộp bằng nhựa rồi đi bộ đến khu đất trống thuộc ấp B, xã T, huyện Tân Hồng để chơi lắc tài xỉu ăn thua bằng tiền cùng với Nguyễn Thị H, Nguyễn Văn L và Nguyễn Khắc S do N làm cái, mỗi ván ăn thua từ 10.000 đồng – 50.000 đồng. Sau khi chơi lắc tài xỉu khoảng 03 đến 05 ván thì Nguyễn Thị H thắng được 30.000 đồng, Nguyễn Văn L thắng được 20.000 đồng thì nghỉ, còn lại N và S tiếp tục chơi lắc tài xỉu. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày thì bị lực lượng Công an huyện Tân Hồng bắt quả tang.
Trước đó vào ngày 17-6-2019, Nguyễn Duy N bị Công an huyện Tân Hồng xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc trái phép ăn thua bằng tiền (hình thức chơi đá gà ăn thua bằng tiền), đã nộp phạt xong vào ngày 19-6-2019 nhưng chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính.
Vật chứng của vụ án thu được:
- Thu giữ tại chiếu bạc: số tiền 80.000 đồng và 09 hột xí ngầu (trong đó: 06 hột xí ngầu do Nguyễn Duy N mang đến và 03 hột xí ngầu dưới 01 cái giường gần chiếu bạc).
- Thu giữ trong người Nguyễn Duy N: 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO, màu vàng đồng; 01 bình xịt hơi cay màu đen và số tiền 2.700.000 đồng.
- Nguyễn Thị H giao nộp số tiền 30.000 đồng và Nguyễn Văn L giao nộp số tiền 20.000 đồng.
Riêng 01 cái đĩa bằng sành và 01 cái hộp bằng nhựa dùng để chơi lắc tài xỉu, N ném bỏ trong quá trình bị lực lượng Công an truy bắt, Cơ quan cảnh sát Công an huyện Tân Hồng có truy tìm nhưng không tìm được.
Đối với Nguyễn Văn L, Nguyễn Thị H và Nguyễn Khắc S có tham gia đánh bạc cùng với Nguyễn Duy N nhưng chưa đủ định lượng để xử lý hình sự nên Công an huyện Tân Hồng đã ra quyết định xử phạt hành chính mỗi người số tiền 1.500.000 đồng.
Trong quá trình điều tra bị cáo Nguyễn Duy N đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình.
Tại Cáo trạng số 08/CT-VKSTH ngày 22-6-2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp đã truy tố bị cáo Nguyễn Duy N về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Duy N thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố, bị cáo thừa nhận hành vi của bị cáo là có lỗi và vi phạm pháp luật.
Tại phần luận tội, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy N phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Duy N đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: không có. Từ những phân tích trên Kiểm sát viên đề nghị xử phạt bị cáo hình phạt tiền là hình phạt chính, mức phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng.
Về vật chứng, Kiểm sát viên đề nghị:
Đối với số tiền 2.830.000 đồng (Trong đó: 80.000 đồng thu giữ tại chiếu bạc, 2.700.000 đồng thu giữ trong người bị cáo Nguyễn Duy N mang theo dùng để đánh bạc, 30.000 đồng do Nguyễn Thị H giao nộp và 20.000 đồng do Nguyễn Văn L giao nộp), đây là tiền dùng để đánh bạc và thu lợi bất chính từ việc đánh bạc, căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.
Đối với 01 bình xịt hơi cay màu đen thu giữ trong người của bị cáo N: Bị cáo N cho rằng là của một người bạn tên T (không biết họ và địa chỉ cụ thể) cho nhưng đây là công cụ hỗ trợ Nhà nước cấm tàng trữ và 09 hột xí ngầu là công cụ dùng vào việc phạm tội, căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy.
Riêng 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO, màu vàng đồng của bị cáo N do không dùng vào việc phạm tội, nghĩ nên trả lại cho bị cáo N quản lý, sử dụng.
Đối với hành vi của Nguyễn Văn L, Nguyễn Thị H và Nguyễn Khắc S có tham gia đánh bạc cùng với bị cáo Nguyễn Duy N nhưng chưa đủ định lượng để xử lý hình sự nên Công an huyện Tân Hồng đã ra quyết định xử phạt hành chính mỗi người số tiền 1.500.000 đồng là phù hợp.
Bị cáo không tham gia tranh luận.
Tại lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Hồng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Hồng, Kiểm sát viên trong quá trình tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Từ khi khởi tố vụ án cho đến tại phiên tòa sơ thẩm những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Xét thấy các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa, lời khai thừa nhận thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Duy N phù hợp với nội dung Cáo trạng truy tố, phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ được, lời khai của những người tham gia tố tụng khác và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, qua tranh tụng đã đủ cơ sở kết luận vào ngày 14-01-2020, Nguyễn Duy N đã thực hiện hành vi đánh bạc trái phép ăn thua bằng tiền cùng với Nguyễn Văn L, Nguyễn Thị H và Nguyễn Khắc S, hình thức chơi lắc tài xỉu ăn thua bằng tiền, mỗi lần đặt cược từ 10.000 đồng – 50.000 đồng, tổng số tiền thu giữ được là 2.830.000 đồng (Trong đó: 80.000 đồng thu giữ tại chiếu bạc, 2.700.000 đồng thu giữ trong người bị cáo Nguyễn Duy N mang theo dùng để đánh bạc, 30.000 đồng do Nguyễn Thị H giao nộp và 20.000 đồng do Nguyễn Văn L giao nộp).
Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo Nguyễn Duy N là người trên 18 tuổi, có đầy đủ năng lực hành vi, thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, bị cáo nhận thức được hậu quả do hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện.
Trước đó vào ngày 17-6-2019, bị cáo đã bị Công an huyện Tân Hồng xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc trái phép ăn thua bằng tiền (hình thức chơi đá gà ăn thua bằng tiền), bị cáo đã nộp phạt xong vào ngày 19-6-2019 nhưng chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính. Đồng thời qua tranh tụng tại phiên tòa, bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi tội phạm của mình, như vậy có đủ cơ sở để kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Duy N phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
Xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Duy N là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, là mầm mống phát sinh một số tội phạm khác. Về ý thức chủ quan, bị cáo nhận thức rõ hành vi đánh bạc ăn thua bằng tiền là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước N cấm nhưng vì tham lam tư lợi bị cáo đã cố tình thực hiện. Vì vậy, cần phải có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, nhưng có xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để răn đe, giáo dục bị cáo nhằm có tác dụng đấu tranh và phòng ngừa chung cho xã hội.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và qua tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: không có.
Từ các nhận định và phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét giảm nhẹ một phần mức hình phạt cho bị cáo nhằm thể hiện tính nhân đạo pháp luật hình sự nước ta và quyết định áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính đối với bị cáo, không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội cũng đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người tốt và cũng không làm ảnh hưởng đến tình hình đấu tranh phòng chống tội phạm trên địa bàn huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp.
Về hình phạt bổ sung: Khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Tuy nhiên Hội đồng xét xử đã áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính, bản thân bị cáo làm thuê mướn không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Đối với hành vi của Nguyễn Văn L, Nguyễn Thị H và Nguyễn Khắc S có tham gia đánh bạc cùng với bị cáo Nguyễn Duy N nhưng chưa đủ định lượng để xử lý hình sự nên Công an huyện Tân Hồng đã ra quyết định xử phạt hành chính mỗi người số tiền 1.500.000 đồng là phù hợp.
Về xử lý vật chứng:
Đối với số tiền 2.830.000 đồng (Trong đó: 80.000 đồng thu giữ tại chiếu bạc, 2.700.000 đồng thu giữ trong người bị cáo Nguyễn Duy N mang theo dùng để đánh bạc, 30.000 đồng do Nguyễn Thị H giao nộp và 20.000 đồng do Nguyễn Văn L giao nộp), đây là tiền dùng để đánh bạc và thu lợi bất chính từ việc đánh bạc nên căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.
Đối với 01 bình xịt hơi cay màu đen thu giữ trong người của bị cáo N: Bị cáo N cho rằng là của một người bạn tên T (không biết họ và địa chỉ cụ thể) cho nhưng đây là công cụ hỗ trợ Nhà nước cấm tàng trữ và 09 hột xí ngầu là công cụ dùng vào việc phạm tội, căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy.
Riêng 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO, màu vàng đồng của bị cáo N, do không dùng vào việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo N quản lý, sử dụng.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Duy N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Xét thấy phát biểu luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy N phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy N số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng).
2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) bình xịt hơi cay màu đen và 09 (Chín) hột xí ngầu.
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 2.830.000 đồng (Hai triệu tám trăm ba mươi nghìn đồng).
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Duy N quản lý, sử dụng 01 (Một) điện thoại nhãn hiệu OPPO, màu vàng đồng.
(Các vật chứng nêu trên hiện tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Hồng đang quản lý theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 24-6-2020 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Hồng và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Hồng).
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Duy N phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
4. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 14-7-2020).
| Nơi nhận: - TAND tỉnh ĐT; - VKSND tỉnh ĐT; - Sở Tư pháp tỉnh ĐT; - VKSND huyện Tân Hồng, tỉnh ĐT; - Cơ quan CSĐT CA Tân Hồng, ĐT; - Cơ quan THAHS CA Tân Hồng, ĐT; - CC THADS huyện Tân Hồng, tỉnh ĐT; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phạm Văn Tựu |