- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Va Q+ Nguyễn Duy T - phạm tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm (điều 244 Luật sửa đổi, bổ sung một số đ…"
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SỐP CỘP TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 11 /2020/HS-ST Ngày 26 tháng 11 năm 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SỐP CỘP, TỈNH SƠN LA
Thành"phần"Hội"đồng"xét"xử"sơ"thẩm"gồm"có:"
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Dương Ngọc Tam
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tòng Văn Hưởng và ông Cầm Văn On
Đại"diện"Viện"Kiểm"sát"nhân"dân"huyện"Sốp"Cộp"tham"gia"phiên"toà: Bà Lò Thị Kim - .Kiểm sát viên.
Thư"ký"phiên"toà: Bà Tòng Thị Duyên - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La.
Ngày 26 tháng 11 năm 2020, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Sốp Cộp, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 11/2020/TLST-HS ngày 21 tháng 10 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11 /2020/QĐXXST- HS ngày 12 tháng 11 năm 2020 đối với các bị cáo:
1. Phạm Văn Q - Sinh ngày 01 tháng 12 năm 1975, tại huyện T, tỉnh Phú Thọ.
Nơi cư trú: Bản S, xã C, huyện S, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Kinh doanh; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn B và bà Dương Thị D; bị cáo có vợ (đã ly hôn) và có 01 con; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân; bị bắt tạm giữ từ ngày 03/7/2020 đến ngày 10/7/2020 áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay; Có mặt.
2. Nguyễn Duy T - Sinh ngày 27/5/1988, tại huyện H, tỉnh Thái Bình.
Nơi cư trú: Bản S, xã S, huyện S, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Duy T1 và bà Nguyễn Thị N; có vợ và 2 con; Tiền án, tiền sự: Không có; Nhân thân; bị bắt, tạm giữ từ ngày 05/7/2020 đến ngày 10/7/2020 áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay; Có mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Nguyễn Thị N, tên gọi khác: Không có, sinh ngày 06/01/1985 tại Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình
Nơi cư trú: Bản H, xã S, huyện S1, tỉnh Sơn La, có mặt.
1
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 18 giờ phút ngày 03 tháng 7 năm 2020, tại khu vực bản Hua Mường, xã Sốp Cộp, huyện Sốp Cộp, tổ công tác Phòng cảnh sát môi trường Công an tỉnh Sơn La kết hợp với Công an huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La, phát hiện lập biên bản quả tang Phạm Văn Q đang có hành vi tàng trữ 01 cá thể động vật hoang dã đã chết, nghi là động vật nguy cấp, quý, hiếm; vật chứng thu giữ gồm: 01 cá thể Beo lửa; 01 điện thoại di động nhãn hiệu VTRETU màu đen; Phạm Văn Q cùng vật chứng bị dẫn giải đến cơ quan Công an huyện Sốp Cộp để điều tra làm rõ.
Tại cơ quan điều tra Công an huyện Sốp Cộp Phạm Văn Q khai nhận: Cá thể động vật bị thu giữ trên là mua của Nguyễn Duy T, sinh năm 1988 trú tại bản Sốp Cộp, xã Sốp Cộp, huyện Sốp Cộp; Cơ quan điều tra công an huyện Sốp Cộp đã bắt khẩn cấp đối với Nguyễn Duy T; Tại cơ quan điều tra Tuệ khai nhận cuối tháng 6 năm 2020 đã mua 01 cá thể Beo lửa của một người dân tộc Mông, không quen biết với số tiền 1.500.000 đồng sau đó gửi trong tủ lạnh tại quán ăn của bà Nguyễn Thị N ở bản H, xã S, huyện S1; Đến ngày 03/7/2020 bán cho Phạm Văn Q.
Vật chứng thu giữ đối với Nguyễn Duy T 01 điện thoại di động NOKIA màu xanh đen, đã qua sử dụng bên trong có 02 sim.
Tạm giữ 01 chiếc kéo có chiều dài 26cm, 01 chiếc tủ lạnh nhãn hiệu SANAKY loại 02 ngăn của Nguyễn Thị N.
Ngày 04/7/2020 cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sốp Cộp đã tiến hành mở niêm phong cân tịnh, xác định khối lượng, chụp ảnh vật chứng và niêm phong lại vật chứng. Kết quả cân tịnh cá thể động vật màu vàng lửa nghi Beo lửa có khối lượng 8,5kg, ký hiệu Q1 gửi giám định.
Ngày 04/7/2020 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sốp Cộp đã ra Quyết định số 682 Trưng cầu Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam giám định 01 cá thể động vật lông màu vàng ký hiệu Q1.
Bản kết luận giám định số 445/STTNSV ngày 08/7/2020 của Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật Viện Hàn lâm khoa học và Công nghệ Việt Nam; kết luận: 01(một) cá thể động vật đã chết ký hiệu Q1 là loài Beo lửa, Beo vàng, có tên khoa học Catopuma temminckii, loài Báo lửa, (Beo lửa, Beo vàng) có tên trong phụ lục I, Danh mục các loài động vật nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ (Ban hành theo Nghị định 64/2019/NĐ-CP, ngày 16/7/2019 của Chính phủ, loài Beo lửa (Catopuma temminckii), đồng thời có tên trong nhóm IB, Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm (Ban hành kèm theo Nghị định số 06/2019/NĐ-CP, ngày 22/01/2019 của Chính phủ).
Cáo trạng số 86/CT-VKSSC ngày 20 tháng 10 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp truy tố Phạm Văn Q và Nguyễn Duy T về tội Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm theo điểm b khoản 1 Điều 244 của Bộ luật hình sự.
2
Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo khai nhận:
Bị cáo Nguyễn Duy T và Phạm Văn Q khai nhận: Khoảng 12 giờ ngày 29/6/2020 Bị cáo T gặp một người đàn ông dân tộc Mông không biết tên, địa chỉ đang đèo phía sau xe máy một thùng cát tông, T có hỏi và biết đang cần bán một con Báo Lửa, khi xem thì thấy bên ngoài là túi ni lon màu trắng bên trong là bao tải dứa màu vàng có một con Báo Lửa nặng khoảng 8 kg, người đàn ông đó đòi bán với giá 2.000.000 đồng, bị cáo trả 1.500.000 đồng người đó nhất trí. Sau khi mua xong bị cáo gửi con báo lửa vào trong tủ lạnh nhà chị Nguyễn Thị N và nói để mấy hôm nữa lấy, lúc đó chị N đang làm cơm trong bếp không nhìn thấy Tuệ gửi đồ.
Đến khoảng 16 giờ ngày 03/7/2020 Phạm Văn Q gọi điện thoại hỏi T có con Hổ lửa không, Q đang cần, T trả lời không có, khoảng 30 phút sau Q gọi lại thì T trả lời quán nhà chị N có một con Q đến xem lấy được thì lấy, chưa thống nhất bán bao nhiêu tiền, ngay sau đó Q và T cùng đến quán chị N xem, do chị N đi chợ chưa về nên T về Trước, Q ngồi đợi; chị N về mở tủ lạnh, Q lấy ra một túi ni lon màu trắng bên trong là bao tải dứa màu cam bên trong là cá thể động vật màu vàng, Q mang về nhà, đến 18 giờ cùng ngày Q đem con Beo lửa ra chợ thuê mổ thì bị tổ công tác phòng PC05 Công an tỉnh Sơn La và Công an huyện Sốp Cộp bắt quả tang thu giữ vật chứng là con Beo lửa.
Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa sau khi trình bầy lời luận tội, vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố PhạmVăn Q và Nguyễn Duy T về tội Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý hiếm. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 244, điểm s, t khoản 1 Điều 51, khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự; tuyên xử phạt: Phạm Văn Q từ 18 đến 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, tuyên thời gian thử thách theo quy định.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 244, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, khoản 1, khoản 2 , khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo: Nguyễn Duy T từ 14 đến 18 tháng tù, nhưng cho hưởng án ttuyên thời gian thử thách theo quy định.
Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Về vật chứng: Tịch thu để tiêu hủy những vật chứng sau:
- 01 túi nilon màu trắng, 01 bao tải dứa màu cam đã qua sử dụng là vật không còn giá trị sử dụng ; 01 thùng xốp có dán 04 giấy niêm phong của Viên Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, bên trong có 01 cá thể động vật Báo lửa đã chết đang được bảo quản động lạnh.
- Tịch thu để nộp ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại NOKIA 105 vỏ nhựa màu xanh đen; 01 điện thoại di động hiệu VTRUTU màu đen lắp 01 sim ;
- Tuyên trả cho Nguyễn Thị N 01 chiếc tủ lạnh nhãn hiệu SANAKY 02 ngăn và 01 chiếc kéo dài 26cm.
Ý kiến kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Khi Nguyễn Duy T đem bao tải có chứa cá thể Báo lửa gửi ở tủ lạnh của gia đình, N không biết đó là con Báo lửa, đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho gia đình chiếc tủ lạnh và chiếc kéo đã bị thu giữ.
3
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Sốp Cộp, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện là phù hợp với quy định của pháp luật.
Căn cứ xác định tội danh và các điều luật áp dụng:
Tại phiên Tòa bị cáo Nguyễn Duy T khai nhận hồi 16 giờ ngày 03/7/2020 đã bán cho Phạm Văn Q 01 cá thể Báo lửa; đến 18 giờ cùng ngày Q mang ra chợ thuê người mổ thịt thì bị cơ quan chức năng của tỉnh và của huyện Sốp Cộp bắt quả tang; Xét lời khai nhận của các bị cáo tại phiên Tòa phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang hồi 18 giờ ngày 03/7/2020, Biên bản niêm phong đồ vật và tài liệu bị tạm giữ, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, Kết luận giám định số 445/STTNSV ngày 08/7/2020 của Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam và vật chứng của vụ án.
Như vậy Nguyễn Duy T và Phạm Văn Q đã mua bán trái phép 01 cá thể Báo lửa thuộc loại động vật hoang dã loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, có tên trong nhóm IB, Danh mục các loài nguy cấp quý hiếm.
Hành vi đó đã cấu thành tội Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm; các bị cáo mua bán cá thể động vật thuộc danh mục các loài nguy cấp, quý hiếm được ưu tiên bảo vệ, do đó Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp truy tố các bị cáo về tội Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý hiếm theo điểm b khoản 1 Điều 244 Bộ luật hình sự là có căn cứ.
Hành vi phạm tội của các bị cáo đã Vi phạm phụ lục I, danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm, được ưu tiên bảo vệ (Ban hành kèm theo Nghị định 64/2019/NĐ-CP ngày 16/7/2019 của Chính phủ). Hành vi của các bị cáo là nghiêm trọng, đã xâm phạm các quy định của Nhà nước về bảo vệ môi trường sinh thái, quy định trong việc bảo vệ sự cân bằng sinh thái, đa dạng sinh học của các loài động vật hoang dã, quý hiếm trong môi trường sinh thái; Do đó, các bị cáo phải bị xử lý nghiêm khắc, nhằm cải tạo giáo dục và phòng ngừa chung.
Đối với Phạm Văn Q là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức rất rõ về hành vi mua bán vận chuyển động vật nguy cấp, quý hiếm là vi phạm pháp luật. Tuy nhiên hành vi tàng trữ không nhằm mục đích trục lợi mà mục đích để sử dụng cho bản thân, do đó bị cáo phải chịu hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra và phải chịu hình phạt cao hơn bị cáo khác.
4
Đối với Nguyễn Duy T, khi hỏi mua người đàn ông dân Mông có nói là con Báo lửa, Tuệ nhận thức khi mua cá thể động vật đã chết là loài Báo lửa, mục đích mua không nhằm trục lợi, mà để sử dụng cho bản thân, nếu không bị phát hiện thì Tuệ cũng sẽ bán lại cho Quý với số tiền 1.500.000 đồng bằng số tiền bị cáo mua trước đó, do đó phải chịu hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội đã gây ra.
Về nhân thân: Các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, lần đầu phạm tội, chính quyền địa phương nơi cư trú xác nhận ngoài lần phạm tội này bị cáo luôn chấp hành tốt chính sách pháp luật của Nhà nước, thực hiện tốt nghĩa vụ công dân nơi cư trú.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Phạm Văn Q sau khi phạm tội, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo thể hiện sự ăn năn hối cải và đã tích cực giúp cơ quan Điều tra trong việc điều tra giải quyết vụ án đã khai ra người bán là Nguyễn Duy T; do đó bị cáo sẽ được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, t khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Bị cáo Nguyễn Duy T, sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có bố đẻ là người có công với Nhà nước được Chủ tịch nước tặng Bằng khen, Huy chương kháng chiến vẻ vang, bản thân bị cáo nhận thức pháp luật còn hạn chế về bảo vệ động vật nguy cấp, quý hiếm, hiện tại gia đình thuộc diện khó khăn, bị cáo là người duy nhất chăm sóc vợ vừa bị phẫu thuật, sức khỏe còn yếu, có con nhỏ 3 tháng tuổi; do đó bị cáo sẽ được áp dụng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt: các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, nhân thân, lý lịch, nơi cư trú rõ ràng, nên không cần thiết phải cách ly các bị cáo khỏi xã hội mà cho các bị cáo được cải tạo ngoài xã hội bình thường, có sự giám sát của gia đình và chính quyền địa phương là đủ để giáo dục, cải tạo các bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát huyện Sốp Cộp đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo đối với các bị cáo là có căn cứ, do đó Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 cho các bị cáo được cải tạo ngoài xã hội là phù hợp.
Trước khi xét xử bị cáo Q đã bị tạm giữ 07 ngày, bị cáo T bị tạm giữ 05 ngày; nếu các bị cáo phạm tội mới trong thời gian thử thách, thì thời gian tạm giữ đó sẽ được khấu trừ vào thời gian chấp hành hình phạt tù.
Đối với người đã trực tiếp săn bắt 01 cá thể Báo lửa bán cho bị cáo Tuệ là đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội cần phải bị xử lý về hình sự, nhưng do không xác định được đối tượng, do đó chưa có căn cứ để xử lý ở vụ án này; đề nghị cơ quan điều tra tiếp tục điều tra xác minh làm rõ và xử lý ở vụ án khác.
5
Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Nguyễn Thị N, được Tuệ đem bao tải dứa chứa cá thể Báo lửa đến gửi ở tủ lạnh quán ăn của gia đình, nhưng Nụ không biết đó là Báo lửa và cũng không được bàn bạc hay hưởng lợi gì, do vậy Cơ quan điều tra không đặt vấn đề xử lý là có căn cứ.
Về vật chứng:
Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c, khoản 2, điểm a, d khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 05/2018/NQ-HĐTP.
- 01 túi nilon màu trắng, 01 bao tải dứa màu cam đã qua sử dụng; 01 thùng xốp có dán 04 giấy niêm phong của Viện sinh thái và Tài nguyên sinh vật, bên trong có 01 cá thể động vật Beo lửa đã chết đang được bảo quản động lạnh là những vật không có giá trị sử dụng và vật khó bảo quản cần tịch thu để tiêu hủy.
- 01 chiếc điện thoại NOKIA 105 vỏ nhựa màu xanh đen số IMEL1:353677089329104, số IMEL 2: 353677089329112, lắp 01 sim số thuê bao 0987114252 thu giữ của Nguyễn Duy T; 01 điện thoại di động hiệu VTRUTU màu đen lắp 01 sim số thuê bao: 0982424455 thu giữ của Phạm Văn Q là vật các bị cáo đã dùng để liên lạc trao đổi mua bán, có liên quan đến hành vi phạm tội cần tịch thu để nộp ngân sách Nhà nước.
- 01 chiếc tủ lạnh nhãn hiệu SANAKY 02 ngăn và 01 chiếc kéo dài 26cm, phần lưỡi kéo dài 15cm, chuôi kéo màu cam đã qua sử dụng, tạm giữ của Nguyễn Thị N, xét thấy không có liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho chủ sở hữu.
Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo phạm tội Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý hiếm, ngoài hình phạt tù bị cáo có thể phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 4 điều 244 của Bộ luật hình sự, nhưng xét thấy gia đình các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, khó khăn về kinh tế, phạm tội không nhằm mục đích trục lợi, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
Về án phí: Bị cáo Phạm Văn Q và Nguyễn Duy T phải chịu án phí theo qui định của Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 244, điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, tuyên bố các bị cáo Phạm Văn Q, Nguyễn Duy T, phạm tội Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm.
1. Về hình phạt chính:
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 244, điểm s, t khoản 1 Điều 51, khoản 1 khoản 2 khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự:
Xử phạt: Phạm Văn Q 20 (Hai mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 40 tháng.
6
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 244, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 khoản 2 khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự:
Xử phạt: Nguyễn Duy T 18 (Mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 36 tháng.
Thời hạn thử thách của các bị cáo tính từ ngày tuyên án sơ thẩm là ngày 26 tháng 11 năm 2020.
Giao bị cáo Phạm Văn Q và Nguyễn Duy T cho UBND xã Sốp Cộp, huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
“Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.
2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
3. Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c, khoản 2, điểm a, d khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 05/2018/NQ-HĐTP.
- Tịch thu để tiêu hủy 01 túi nilon màu trắng, 01 bao tải dứa màu cam đã qua sử dụng; 01 thùng xốp có dán 04 giấy niêm phong của Viện sinh thái và Tài nguyên sinh vật, bên trong có 01 cá thể động vật Báo lửa đã chết đang được bảo quản đông lạnh.
- Tịch thu để nộp ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại NOKIA 105 vỏ nhựa màu xanh đen số IMEL1: 353677089329104, số IMEL 2: 353677089329112, lắp 01 sim số thuê bao 0987114252 thu giữ của Nguyễn Duy T; 01 điện thoại di động hiệu VTRUTU màu đen lắp 01 sim số thuê bao: 0982424455 thu giữ của Phạm Văn Q.
- Tuyên trả cho Nguyễn Thị N 01 chiếc tủ lạnh nhãn hiệu SANAKY 02 ngăn và 01 chiếc kéo dài 26cm, phần lưỡi kéo dài 15cm, chuôi kéo màu cam đã qua sử dụng; Toàn bộ vật chứng của vụ án theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản lập ngày 22/10/2020 giữa Chi cục thi hành án dân sự huyện Sốp Cộp và Công an huyện Sốp Cộp.
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội; buộc bị cáo Phạm Văn Q, Nguyễn Duy T, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo:
7
Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xét xử phúc thẩm. "
| Nơi"nhận: - Các bị cáo; - Viện KS huyện Sốp Cộp; - Toà án ND tỉnh; - Công an huyện Sốp Cộp; - Cơ quan THA hình sự; - CC Thi hành án DS; - Sở tư pháp SL; - UBND xã Sốp Cộp, - Người có QLNVLQ; - Lưu án văn. 8 | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA Dương Ngọc Tam |