vanban.org

Bản án 11/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu Tuyên án 26/02/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bị cáo Sùng A S, tên gọi khác: không, phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Sùng A S: 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Bị cáo được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 21/10/2019 đến ngày 30/10/2019. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Sung A Su - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Bị cáo Sùng A S, tên gọi khác: không, phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHONG THỔ
TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2020/HS-ST
Ngày 26 tháng 02 năm 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hạnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lò Văn Chiên;

2. Bà Trần Thị Mùi.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Ông Đồng Xuân Tím - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 11/2020/TLST-HS, ngày 07 tháng 02 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2020/QĐXXST-HS, ngày 13 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Sùng A S, tên gọi khác: Không, sinh năm 2001, tại huyện P, tỉnh L. Nơi đăng ký HKTT và nơi ở hiện nay: Bản C, xã S, huyện P, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Tin lành; quốc tịch: Việt Nam; con ông Sùng A L, sinh năm 1974 và bà Giàng Thị V, sinh năm 1975; gia đình bị cáo có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ 03; Bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 21/10/2019 đến ngày 30/10/2019 được thay thế bằng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 00 phút, ngày 21/10/2019, Sùng A S điều khiển xe máy nhãn hiệu HONDA BLADE màu sơn xanh đen, biển kiểm soát: 25B1 - 38855 từ nhà đi thành phố Lai Châu để đón bố của S. Khi S đi qua địa phận bản Chí Sáng, xã Sin Suối Hồ thì gặp và mua được của một người đàn ông không rõ tên, tuổi, địa chỉ 01 gói Heroine với giá 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, được gói bằng nilon màu trắng, buộc thắt lại. Sau khi mua được Heroine, S cất vào túi giả da mang theo người và tiếp tục đi theo hướng ra thành phố Lai Châu. Đến khoảng 19 giờ 15 phút cùng ngày, tại địa phận bản Chí Sáng, tổ công tác Đồn biên phòng Sin Suối Hồ - Bộ đội Biên phòng tỉnh Lai Châu đang làm nhiệm vụ, đã tiến hành kiểm tra đối với Sùng A S, phát hiện và thu giữ toàn bộ tang vật do S giao nộp, gồm: 01 gói chất bột màu trắng được gói ngoài bằng nilon màu trắng, Sử khai đó là Heroine; 01 túi đeo da có nắp màu nâu, trên nắp túi có dòng chữ ARCA DIA; 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA BLADE màu sơn xanh - đen, biển kiểm soát: 25B1 - 38855, số khung: RLHJA3659 GY022225; số máy: JA36E-0484161.

Qua các kết quả trưng cầu giám định xác định được số chất bột màu trắng thu giữ của Sùng A S là ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,67 gam.

Tại bản Cáo trạng số: 11/CT-VKS, ngày 06 tháng 02 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu đã truy tố bị cáo Sùng A S về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ giữ nguyên Cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Sùng A S phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, xử phạt bị cáo Sùng A S từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số Heroine còn lại sau giám định và vỏ niêm phong cũ là vật chứng của vụ án, 01 túi đeo da có nắp màu nâu, trên nắp túi có dòng chữ ARCA DIA; trả lại cho bị cáo 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA BLADE màu sơn xanh - đen, biển kiểm soát: 25B1-38855. Về án phí: Gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo nên căn cứ vào Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí hình sư sơ thẩm cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Phong Thổ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội mà bị cáo Sùng A S đã thực hiện:

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa ngày hôm nay phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản mở niêm phong vật chứng; kết luận giám định; lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở để khẳng định:

Khoảng 19 giờ 15 phút, ngày 21/10/2019, tại địa phận bản Chí Sáng, xã Sin Suối Hồ, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu, tổ công tác Đồn biên phòng Sin Suối Hồ - Bộ đội Biên phòng tỉnh Lai Châu đang làm nhiệm vụ, đã tiến hành kiểm tra đối với Sùng A Sử, phát hiện Sùng A S cất giấu 01 gói chất bột khô màu trắng, được gói ngoài bằng nilon màu trắng trong một túi đeo da có nắp màu nâu, S đang đeo trên người. Tổ công tác tiến hành lập biên bản và thu giữ toàn bộ tang vật. Qua trưng cầu giám định, xác định được số chất bột khô màu trắng thu giữ của Sùng A Sử là ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,67 gam.

Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Bị cáo nhận thức được rõ Heroine là một loại ma túy, chất gây nghiện có tác hại rất lớn và ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người, là một trong những nguyên nhân gây mất trật tự xã hội và làm phát sinh tội phạm khác. Bị cáo biết rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ đã truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai số Heroine bị thu giữ là bị cáo mua của một người đàn ông không rõ tên, tuổi, lai lịch cụ thể nên không đủ căn cứ để điều tra xử lý đối với người đàn ông đó.

Xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế khó khăn, nhận thức pháp luật có phần hạn chế. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội, đồng thời để góp phần nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật trong nhân dân và đảm bảo công tác phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo khó khăn, nghề nghiệp làm ruộng, bản thân là người nghiện ma túy, không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

Vật chứng của vụ án gồm 0,54 gam Heroine còn lại sau giám định là vật cấm lưu hành và toàn bộ vỏ niêm phong cũ, 01 chiếc túi da màu nâu do không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

01 chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA BLADE màu sơn xanh - đen, biển kiểm soát: 25B1 - 38855, số khung: RLHJA3659 GY022225; số máy: JA36E-0484161. Đây là tài sản chung của gia đình bị cáo, bị cáo đã sử dụng chiếc xe nhưng bị cáo không bàn bạc với ai về việc mua Heroine. Bị cáo muốn xin lại chiếc xe để trả lại cho gia đình làm phương tiện đi lại nên cần trả lại cho bị cáo.

Về án phí: Gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo nên được miễn án phí theo quy định của pháp luật theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 38, 47, 50 của Bộ luật Hình sự; các Điều 106, 135, 136, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên bố:

1. Bị cáo Sùng A S, tên gọi khác: không, phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

2. Xử phạt bị cáo Sùng A S: 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù.

Bị cáo được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 21/10/2019 đến ngày 30/10/2019. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

3. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,54 gam Heroine còn lại sau giám định là vật cấm lưu hành và toàn bộ vỏ niêm phong cũ, 01 chiếc túi da màu nâu không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Trả lại cho bị cáo: 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA BLADE màu sơn xanh - đen, biển kiểm soát: 25B1 - 38855, số khung: RLHJA3659 GY022225; số máy: JA36E-0484161.

(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản được lập hồi 08 giờ 30 phút, ngày 07/02/2020, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu).

4. Về án phí: Bị cáo được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ