- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua Thị Kh phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Mùa Thị Kh phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý"
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÙ CANG CHẢI, TỈNH YÊN BÁÍ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Số: 11/2020/HS-ST Ngày: 24/06/2020 |
HUYỆN MÙ CANG CHẢI Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÙ CANG CHẢI, TỈNH YÊN BÁÍ - Với
thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Tòng Văn Quân Các Hội thẩm thân dân: ông Giàng A Dao ông Nguyễn Văn Tuấn - Thư ký phiên toà: ông Lý A Dà- Thư ký Toà án nhân dân huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mù Cang Chải tham gia phiên toà: ông Đoàn Xuân Trường- kiểm sát viên. Trong ngày 24 tháng 6 năm 2020 tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Mù Cang Chải xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 15/2020/TLST- HS ngày 08 tháng 6 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2020/QĐXXST- HS ngày 10 tháng 6 năm 2020 đối với bị cáo: Mùa Thị Khua - sinh ngày 08 tháng 5 năm 1969, tại huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái; nơi cư trú: Bản M, xã M, huyện M, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa: Không biết chữ; dân tộc: Mông; giới tính:Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mùa Mùa V (Mùa Bùa V) và bà Giàng Thị D- (đều đã chết); có chồng là Sùng Chà Ch - Sinh năm 1969 và 08 con (con lớn nhất sinh năm 1989, con nhỏ nhất sinh năm 2001); tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bị cáo là người phụ nữ dân tộc thiểu số, không biết chữ, hiểu biết xã hội còn nhiều hạn chế, chưa có tiền án, tiền sự. Nhưng là người nghiện ma túy, chỉ vì mua ma túy để sử dụng nên đã dấn thân vào con đường phạm tội. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/3/2020 hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Mù Cang Chải. Có mặt. - Người bào chữa cho bị cáo: ông Vương Văn Điển- Trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Yên Bái. Có mặt. - Người phiên dịch: ông Thào A Dờ- Trú tại: Tổ 5, thị trấn Mù Cang Chải, huyện Mù Cang Chải. tỉnh Yên Bái. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 04/3/2020, tại nhà ông Chang A Ch thuộc tổ 3 thị trấn Mù Cang Chải, huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái. tổ công tác Công an thị trấn Mù Cang Chải bắt quả tang Mùa Thị Kh về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” thu giữ 02 gói ni lon màu trắng, bên trong có chứa chất bột nén màu trắng (nghi là hê rô in) và 415.000 đồng tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam. Mùa Thị Khua khai nhận 02 gói ni lon màu trắng, bên trong có chứa chất bột nén màu trắng là hê rô in của bản thân, mục đích để sử dụng. Tại kết luận giám định số: 53/GĐMT ngày 12/3/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái kết luận: - Chất bột nén màu trắng thu giữ khi bắt quả tang Mùa Thị Kh có khối lượng là: 0,55 gam (Không phẩy năm mươi lăm gam); 0,18 gam trích từ 0,55 gam chất bột nén màu trắng gửi giám định là ma túy, loại hê rô in. Tại kết luận giám định số: 73/KLGĐ ngày 10/3/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái kết luận: Tổng số tiền 415.000 đồng thu giữ của Mùa Thị Kh gửi giám định đều là tiền do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành. Quá trình điều tra Mùa Thị Kh khai nhận: Khoảng 17 giờ ngày 04/3/2020 Mùa Thị Kh đang đứng chơi ở khu vực Công viên thị trấn Mù Cang Chải thì gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 02 gói (tép) hê rô in với giá 300.000 đồng với mục đích để sử dụng. Sau đó Kh tìm chỗ vắng người qua lại rồi dùng tay cấu một ít hê rô in từ gói ra để sử dụng bằng hình thức hít. Sử dụng xong Mùa Thị Kh đi vào nhà Chang A Ch tại tổ 3, thị trấn Mù Cang Chải, huyện Mù Cang Chải chơi. Tại đây ngoài vợ chồng Chang A Ch còn có Giàng Thị S và Sùng A Ch đều trú tại bản Nả Háng, xã Mồ Dề. Sau đó những người này cùng nấu cơm ăn tại nhà Chang A Ch, ăn cơm xong S đi về, còn Kh và Ch ngủ lại tại nhà Ch. Đến khoảng 23 giờ 30 phút ngày 04/3/2020 thì bị tổ công tác Công an thị trấn Mù Cang Chải đến kiểm tra, bắt quả tang Mua Thị Kh về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và thu giữ toàn bộ vật chứng. Cáo trạng số: 16 /CT- VKS- MCC ngày 04 tháng 6 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mù Cang Chải truy tố Mùa Thị Kh về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên trình bày lời luận tội đã phân tích, đánh giá hành vi của bị cáo trong quá trình thực hiện tội phạm và giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Mùa Thị Kh từ 01(một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù về tội “Tàng Trữ trái phép chất ma túy”. Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy vật chứng là số ma túy còn lại sau khi lấy mẫu giám định và vỏ phong bì niêm phong; trả lại cho bị cáo 415.000 đồng là tiền thu nhập hợp pháp của bị cáo không liên quan đến vụ án. Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì đối với lời luận tội; người bào chữa trình bày lời bào chữa nhất trí với bản cáo trạng truy tố về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Tòa án áp điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51của Bộ luật hình sự và xem xét bị cáo là người phụ nữ dân tộc thiểu số, hiểu biết xã hội còn hạn chế, chưa có tiền án, tiền sự; lần đầu phạm tội; quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo để cân nhắc giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đề nghị xử phạt bị cáo 01 (một) năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Bị cáo không có ý kiến bổ sung lời bào chữa. Khi được nói lời sau cùng, bị cáo xin được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Cơ quan điều tra Công an huyện Mù Cang Chải, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Mù Cang Chải, Kiểm sát viên; trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa các thành viên của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thủ tục tố tụng tại phiên tòa theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. [2] Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với biên bản thu giữ vật chứng; phù hợp với kết luận giám định và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Ngày 04/3/2020, bị cáo Mùa Thị Kh đã thực hiện hành vi cất giữ 0,55 gam ma túy, loại hê rô in nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi đó của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. [3] Với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo nhận thức được việc “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là vi phạm pháp luật, nhưng do nghiện ma túy nên cố tình thực hiện. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm quy định của Nhà nước về phòng ngừa, ngăn chặn, đấu tranh chống tệ nạn ma tuý. Tuy nhiên xét về động cơ, mục đích phạm tội của bị cáo giản đơn, lượng hê rô in bị cáo tàng trữ là không lớn (0,55 gam), nhưng vẫn cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật. [4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng; tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, được Hội đồng xét xử áp dụng khi quyết định hình phạt. [5] Căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho xã hội. Đồng thời cũng đảm bảo răn đe, phòng ngừa chung. Xét thấy hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo khó khăn, không có khả năng, điều kiện thi hành nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo. [6] Các vấn đề khác liên quan đến vụ án: Đối với người đàn ông bán hê rô in cho Mùa Thị Kh, do Kh không biết tên và địa chỉ của người này. Do đó cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh điều tra xử lý đối với người này. Đối với Chang A Ch và Sùng A Ch là người có mặt tại nơi Công an bắt quả tang Mùa Thị kh. Tuy nhiên quá trình điều tra xác định những người này không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, do đó không đặt vấn đề xử lý đối với những người này. [7] Về vật chứng và tài sản liên quan đến vụ án: Vật chứng là số ma túy còn lại sau khi lấy mẫu giám định được niêm phong trong một phong bì do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái phát hành là vật cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy; Vật chứng là 02 vỏ phong bì đã mở niêm phong; 01 ví vải nhiều màu sắc hoa văn, không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy; Số tiền 415.000 đồng là tiền thu nhập hợp pháp của bị cáo không liên quan đến vụ án, cần trả lại cho bị cáo. [8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Mùa Thị Kh phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" 1. Về hình phạt: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Mùa Thị Kh 01(một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 05/3/2020. 2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. - Tịch thu tiêu huỷ: 02 (hai) vỏ phong bì đã mở niêm phong; 01 (một) ví vải nhiều màu sắc hoa văn, cũ đã qua sủ dụng; 01 (một) phong bì niêm phong do phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái phát hành. Mặt trước phong bì có ghi: “Vật chứng thu giữ Mùa Thị Kh- SN: 1969 tại tổ 3 thị trấn Mù Cang Chải, huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái, ngày 04/3/2020 (Sau khi trích mẫu giám định)”. Mặt sau phong bì các mép được dán kín có chữ ký, họ tên của Nguyễn Xuân Thủy, Đoàn Xuân Trường, Trần Nhật Tân, Sùng A Chư, Vương Văn Điển và các hình dấu tròn đỏ của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái tại mép dán giáp lai. - Trả lại cho bị cáo 415.000 đồng (Bốn trăm mười lăm nghìn đồng)) tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam. 3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, Bị cáo Mùa Thị Kh phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận: - TAND tỉnh YB; - VKSND huyện MCC; - VKSND tỉnh Yên Bái; - Công an huyện MCC (2 bản); - Chi cục THADS huyện MCC; - Sở Tư pháp; Đã ký - Bị cáo; - Người bào chữa; - Công an trại giam; - Lưu T.H.A phạt tù, hồ sơ. Tòng Văn Quân | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |