- Tranh chấp gì? án hình sự — "Ninh Kiên T phạm tội: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo NINH KIÊN T phạm tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG BÚK TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 11/2020/HS-ST Ngày: 29 - 4 - 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG BÚK, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Thái Văn Hải
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Y BHiu Mlô
2. Bà Cao Thị Thúy Nga.
- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Đức Anh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Búk tham gia phiên toà: Ông Đinh Quang Ngọc - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 4 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 09/2020/HSST ngày 20/3/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2020/QĐXXST - HS, ngày 31 tháng 3 năm 2020 đối với bị cáo:
NINH KIÊN T (tên gọi khác: Không); sinh năm 1980, tại tỉnh H; nơi cư trú:
Thôn 8, xã C, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn:12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Ninh Minh L, sinh năm 1955 và bà Phan Thị Ch, sinh năm 1955; Bị cáo có vợ là Trần Thị G, sinh năm 1989, và 02 con, lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2013 hiện sinh sống tại Thôn 8, xã C, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; Tiền án; Tiền sự: Không;
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú Thôn 8, xã C, thành
phố B, tỉnh Đắk Lắk - Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Anh Y S Ayũn, sinh năm 1998 (đã chết)
- Người đại diện hợp pháp của bị hại: Chị H H Niê, sinh năm 2000
Địa chỉ: Buôn D, xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
- Người đại diện theo ủy quyền của chị H H Niê: Ông Y M Niê Kdăm
Địa chỉ: Buôn M, xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; Có mặt;
Người phiên dịch tiếng Ê Đê tại phiên tòa: Ông Y M Niê – Chức vụ: Đội phó
đội công tác 253 xã C, huyện K. Có mặt.
- Người làm chứng: Anh Trần Đình V, sinh năm 1993; Có mặt
Địa chỉ: Thôn B, xã Ng, huyện B, tỉnh Bình Phước.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ninh Kiên T là người có giấy phép lái xe hạng C. Chiều ngày 31/10/2019, T điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 47C-210.13 chở hàng từ thành phố B để đến tỉnh Quảng Trị, đi cùng xe có anh Trần Đình V làm phụ xe. Đến khoảng 18 giờ 45 phút cùng ngày, T điều khiển xe ô tô lưu thông trên đường Hồ Chí Minh theo hướng thị xã Buôn Hồ đi huyện Ea Hleo. Khi đi đến đoạn đường tại Km1716+100 thuộc địa phận buôn Dh, xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk thì phát hiện phía trước có một xe ô tô tải nhỏ đang lưu thông cùng chiều. T thiếu quan sát phương tiện lưu thông ngược chiều nên khi T điều khiển xe ô tô đi sang làn đường dành cho phương tiện lưu thông ngược chiều, để chuẩn bị vượt xe ô tô tải cùng chiều thì va chạm với xe mô tô biển kiểm soát 47B2-092.83 do anh Y S Ayũn điều khiển chiều ngược lại gây tai nạn. Hậu quả anh Y S Ayũn chết tại chỗ hai phương tiện hư hỏng
Tại biên bản bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông ngày 04 tháng 11 năm 2019 xác định: Tại km 1716+100 đường Hồ Chí Minh thuộc địa bàn buôn Dh, xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn là đoạn đường thẳng, dốc, mặt đường được trải nhựa, rộng 11m, ở giữa đường có vạch kẻ sơn đứt quãng, chia đường thành hai chiều xe chạy riêng biệt, hai bên đường là rừng thông và rẫy cà phê, nơi xảy ra tai nạn có biển báo hiệu giao nhau với đường không ưu tiên.
- Chọn cột mốc số 1716+100 nằm bên phải theo hướng từ huyện Ea Hleo về thị xã Buôn Hồ làm điểm mốc cố định.
- Chọn mép đường bên phải theo hướng từ huyện Ea Hleo về thị xã Buôn Hồ làm mép đường chuẩn xác định:
- Nạn nhân (Y S Ayun) ký hiệu là (1): Sau va chạm, nạn nhân nằm ngã ngửa ở dưới mương, đầu quay về hướng Đông Bắc, chân quay về hướng Tây Nam. Điểm đầu nạn nhân đo vào mép đường chuẩn là 4,40 m và đo vào trục bánh sau xe mô tô biển kiểm soát: 47B2-092.83 là 4,00 m.
- Phương tiện: Xe mô tô biển kiểm soát: 47B2-092.83 ký hiệu là (2): Sau va chạm xe ngả nghiêng về bên trái, đầu xe quay về hướng Đông, đuôi xe quay về hướng Tây. Tâm trục bánh trước đo vào mép đường chuẩn là 4,40m. Tâm trục bánh sau xe (2) đo vào mép đường chuẩn là 4,70m.
Xe ô tô tải biển kiểm soát: 47C-210.13 ký hiệu là (3): Sau va chạm, xe đậu sát lề đường, đầu xe quay về hướng Tây Bắc, đuôi xe quay về hướng Đông Nam. Tâm trục bánh trước bên trái đo vào mép đường chuẩn là 8,00m. Tâm trục (bánh xe giữa và bánh xe sau), bên trái đo vào mép đường chuẩn là 7,80m.
- Dấu vết tại hiện trường:
+ Quan sát trên mặt đường phát hiện chùm vết cày kích thước (13,10 x 0,01) m ký hiện là (4): Điểm đầu vết cày (4) đo vào mép đường chuẩn là 1,60m. Điểm cuối vết cày (4) đo vào mép đường chuẩn là 3,80m và cách tâm trục bánh sau xe (2) là 1,90m.
+ Vùng mảnh vỡ kích thước (19,10 x 3,60) m ký hiệu là (5): Tâm vùng mảnh vỡ (5) đo vào mép đường chuẩn là 0,20m. Tâm vùng mảnh vỡ (5) đo vào điểm đầu vết cày (4) là 10,80m.
+ Vết chà màu đen kích thước (13,70 x 0,25) m ký hiệu là (6): Điểm đầu vết chà (6) đo vào mép đường chuẩn là 7,20 m. Điểm cuối vết chà (6) kết thúc tại trục bánh xe trước bên trái xe (3) và cách mép đường chuẩn là 8,00m. Khoảng cách từ điểm đầu vết chà (6) tới tâm vùng mảnh vỡ (5) là 76,00m.
+ Vết vân hoa lốp kích thước (4,80 x 0,50) m ký hiệu là (7): Điểm đầu vết (7) đo vào mép đường chuẩn là 7,70m. Điểm cuối vết (7) kết thúc tại bánh xe sau, bên trái xe (3) và cách mép đường chuẩn là 7,80m. Khoảng cách từ điểm đầu vết (7) tới điểm cuối vết chà (6) là 1,70m.
Căn cứ vào các dấu vết để lại trên hiện trường, vị trí cuối cùng của các phương tiện và các tài liệu thu thập được xác định: Điểm va chạm giữa xe ô tô tải biển kiểm soát 47C-210.13 với xe mô tô biển kiểm soát 47B2-092.83: Tâm vị trí va chạm đo vào mép đường chuẩn là 3,50 m, tâm vị trí va chạm đo vào tâm trục bánh sau, bên trái xe (3) là 80,70 m, tâm vị trí sau va chạm đo vào tâm điểm mốc cố định là 32,60m, tâm vị trí va chạm đo tới điểm đầu vết cày (4) là 12,45m
- Khám nghiệm xe ô tô biển kiểm soát 47C-210.13, nhãn hiệu HINO, số loại FL8JTSL 6x2/LEXIM-MB1, loại xe: ô tô tải (có mui), số khung: RNJFL8JTSHXX20140, số máy: J08EUF21123: Đèn xi nhan trước, bên trái người điều khiển bị bể vỡ, rơi khỏi vị trí ban đầu; Cản xe phía trước, bên trái có vết chà màu đen, kích thước (0,20 x 0,05) m, điểm thấp nhất cách mặt đất 0,84m; Đèn chiếu sáng phía trước, bên trái bị bể vỡ, rơi ra khỏi vị trí ban đầu, kích thước (0,25 x 0,05)m, điểm thấp nhất cách mặt đất 0,76 m; Sắt-xi trước, bên trái có dính tạp chất màu đèn, đỏ, trắng (nghi tóc, máu, xương của nạn nhân), kích thước (0,30 x 0,20) m, điểm thấp nhất cách mặt đất 1,0 m; Cánh cửa trước, bên trái có vết chà xước, tróc sơn, dính tạp chất màu đỏ, trắng (nghi máu và xương, não của nạn nhân), kích thước (0,70 x 0,35) m, điểm thấp nhất cách mặt đất 0,70m; Lốp bánh xe trước, bên trái bị bể vỡ, kích thước (0,30 x 0,17) m; Niềng bánh xe trước, bên trái méo mó, biến dạng; Cản bảo vệ hông xe trước, bên trái bị đẩy cong theo chiều hướng từ trước ra sau.
Ghi nhận an toàn kỹ thuật của phương tiện: Hệ thống lái hoạt động bình thường; hệ thống phanh hoạt động bình thường; đèn xi nhan phía trước bên trái không còn hoạt động; lốp phía trước bên trái không còn sử dụng được
- Khám nghiệm xe mô tô biển kiểm soát 47B2-092.83, nhãn hiệu YAMAHA, số loại SIRIUS màu sơn: đen, số khung: S3105Y010936, số máy: 3S31010936: Gương chiếu hậu bên trái bị bể vỡ, rơi ra khỏi vị trí ban đầu; Đầu nắm tay cầm lái bên trái có vết chà xước, kích thước (0,02 x 0,005) m, đồng thời bị bung rời lớp cao su, điểm thấp nhất cách mặt đất 0,78m; Tay cầm lái bên trái bị đẩy cong theo chiều hướng từ trước ra sau, từ trái sang phải; Cụm đèn chiếu sáng trước có vết chà xước, kích thước (0,04 x 0,02) m, điểm thấp nhất cách mặt đất 0,90m, đồng thời bị bung ra khỏi vị trí ban đầu; Yếm chắn gió phía trước, bên trái bị bể vỡ, kích thước (0,80 x 0,50) m, điểm thấp nhất cách mặt đất 0,20m; Cụm chạng ba phía trước bị đẩy cong theo chiều hướng từ trước ra sau, từ trái qua phải; Dè chắn bùn trước bị bể vỡ, kích thước (0,30 x 0,20) m, điểm thấp nhất cách mặt đất 0,50m; Phuộc nhún phía trước, bên trái bị bể vỡ, rơi ra khỏi ban đầu; Lốp bánh xe trước bị bể vỡ; Bàn đạp số trước, bên trái bị đẩy cong theo chiều hướng từ trước ra sau; Gác để chân trước, bên trái bị chà xước, tróc sơn, kích thước (0,50 x 0,10)m, điểm thấp nhất cách mặt đất 0,55 m; Gác để chân sau, bên trái có vết chà xước kích thước (0,10 x 0,05)m, điểm thấp nhất cách mặt đất 0,35 m; Cản sau xe có vết chà xước, kích thước (0,18 x 0,02) m, điểm thấp nhất cách mặt đất 0,74 m.
Ghi nhận an toàn kỹ thuật của phương tiện: Hệ thống điều khiển không còn hoạt động; Hệ thống đèn chiếu sáng không còn hoạt động; hệ thống hảm đạp số, đạp số không còn hoạt động
Vật chứng vụ án Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tạm giữ gồm:
- 01 xe ô tô tải biển kiểm soát: 47C-210.13; Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại chiếc xe trên cho bị cáo Ninh Kiên T.
- 01 xe mô tô biển kiểm soát: 47B2-092.83 trả lại cho người đại diện hợp pháp là ông Y M Niê Kđăm.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số: 361/TTh-TTPY ngày 08/11/2019 của Trung tâm pháp y tỉnh Đắk Lắk kết luận nguyên nhân chết đối với nạn nhân Y S Ayũn: Ngưng hô hấp, tuần hoàn do Chấn thương sọ não hở nặng/Nhiều thương tích nặng do tai nạn giao thông.
Tại bản kết luận định giá tài sản ngày 28 tháng 02 năm 2020, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân huyện Krông Búk, kết luận: Giá trị phần hư hỏng của xe ô tô biển kiểm soát 47C-210.13, nhãn hiệu HINO, số loại FL8JTSL 6x2/LEXIM-MB1, loại xe: ô tô tải (có mui), số khung: RNJFL8JTSHXX20140, số máy: J08EUF21123 là 5.000.000 đồng. Giá trị hư hỏng xe mô tô biển kiểm soát 47B2-092.83, nhãn hiệu YAMAHA, số loại SIRIUS màu sơn: đen, số khung: S3105Y010936, số máy: 3S31010936 là 3.500.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị thiệt hại là 8.500.000 đồng
Tại bản cáo trạng số 11/CT - VKS, ngày 18/3/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Búk đã truy tố bị cáo Ninh Kiên T, về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay bị cáo Ninh Kiên T, thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội đúng như nội dung bản Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Krông Búk đã truy tố bị cáo.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Búk vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố đối với bị cáo Ninh Kiên T và đề nghị Hội đồng xét xử cần áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo Ninh Kiên T từ 12 đến15 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng.
Các biện pháp tư pháp:
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 46; khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
+ Chấp nhận việc Cơ quan CSĐT Công an huyện Krông Búk đã trả lại 01 xe ô tô tải biển kiểm soát: 47C-210.13 cho chủ sở hữu hợp pháp là Ninh Kiên T; 01 xe mô tô biển kiểm soát: 47B2-092.83 cho gia đình bị hại.
- Trả lại cho bị cáo Ninh Kiên T 01 giấy phép lái xe số 790154182759 do Sở giao thông vận tải TPHCM cấp ngày 04/9/2015 là chủ sở hữu, vì không liên quan đến vụ án.
- Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra bị cáo Ninh Kiên T đã tự nguyện bồi thường cho gia đình nạn nhân Y S Ayũn số tiền 130.000.000đ (Một trăm ba mươi triệu đồng). Được đại diện gia đình nạn nhân Y S Ayũn làm đơn bãi nại, không yêu cầu gì thêm.
Tại phiên tòa người đại diện hợp pháp của bị hại đồng ý với quan điểm xử lý vụ án của Kiểm sát viên không có ý kiến tranh luận gì mà đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Ninh Kiên T thừa nhận quyết định truy tố và quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai. Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt nhằm tạo điều kiện cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất và sẽ phấn đấu trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Krông Búk, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Búk, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định Điều 172 Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người làm chứng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
. Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Vào khoảng 18 giờ 45 phút, ngày 31/10/2019, bị cáo Ninh Kiên T điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 47C-213.10 lưu thông trên đường Hồ Chí Minh theo hướng thị xã Buôn Hồ về huyện EaHleo. Khi đi đến km 1716+100 thuộc địa phận buôn Dh, xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk, do thiếu quan sát, vượt xe trái quy định dẫn đến va chạm với xe mô tô biển kiểm soát 47B2-092.83 do anh Y S Ayũn, điều khiển ngược chiều lại gây tai nạn. Hậu quả anh Y S Ayũn chết tại chỗ, ô tô tải biển kiểm soát 47C-213.10 và xe mô tô biển kiểm soát 47B2-092.83 bị hư hỏng.
Hành vi nói trên của Ninh Kiên T đã vi phạm vào khoản 2 Điều 14 Luật Giao thông đường bộ.
…….;
2. Xe xin vượt chỉ được vượt khi không có chướng ngại vật phía trước, không có xe chạy ngược chiều trong đoạn đường định vượt, xe chạy trước không có tín hiệu vượt xe khác và đã tránh về bên phải.
Xét thấy lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với lời khai đại diện hợp pháp của bị hại, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm tử thi, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Như vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Ninh Kiên T phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ " theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự.
Tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự quy định:
1) Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tiền 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm
a, Làm chết 01 người;”
. Đánh giá tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử nhận thấy:
Hành vi do bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, được quy định trong Bộ luật hình sự và luật giao thông đường bộ, không những xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe, tính mạng của người khác mà còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo hoàn toàn có đủ khả năng nhận thức về tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi cũng như hậu quả do hành vi của mình gây ra, nhưng vì không tuân thủ các qui định về an toàn giao thông đường bộ nên dẫn tới vụ tai nạn nói trên gây hậu quả làm cho anh Y S Ayũn chết tại chỗ, hai phương tiện hư hỏng. Vì vậy quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Búk đối với bị cáo Ninh Kiên T về tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ " là có căn cứ cần chấp nhận.
. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo thành khẩn khai báo, biết ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo đã bồi thường thiệt hại thỏa đáng cho gia đình người bị hại để khắc phục toàn bộ hậu quả và bị cáo có con nhỏ, là lao động chính của gia đình và được đại diện hợp pháp của người bị hại làm đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì vậy, cần áp dụng điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo thể hiện tính nhân đạo và khoan hồng của pháp luật Nhà nước ta.
. Từ những phân tích, đánh giá và nhận định nêu trên Hội đồng xét xử thấy bị cáo Ninh Kiên T có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cần áp dụng biện pháp miễn chấp hành hình phạt có điều kiện quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự, để cho bị cáo cải tạo ngoài xã hội dưới sự quản lý, giám sát, giáo dục của địa phương và gia đình cũng đảm bảo tính răn đe giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
. Các biện pháp tư pháp:
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 46; khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự và điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
+ Chấp nhận việc Cơ quan CSĐT Công an huyện Krông Búk đã trả lại 01 xe ô tô tải biển kiểm soát: 47C-210.13 cho chủ sở hữu hợp pháp là Ninh Kiên T; 01 xe mô tô biển kiểm soát: 47B2-092.83 cho người đại diện hợp pháp của bị hại.
Các vật chứng trên có đặc như biên bản về việc trả lại đồ vật, tài liệu ngày 28/02/2020).
- Trả lại cho bị cáo Ninh Kiên T 01 giấy phép lái xe số 790154182759 do Sở giao thông vận tải TPHCM cấp ngày 04/9/2015 là chủ sở hữu. (Đã trả cho Ninh Kiên T ngày 29/4/2020).
Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra bị cáo Ninh Kiên T đã tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại cho gia đình bị hại anh Y S Ayũn tổng số tiền 130.000.000đ (Một trăm ba mươi triệu đồng). Được đại diện hợp pháp gia đình bị hại làm đơn bãi nại và không yêu cầu gì thêm.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Ninh Kiên T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo NINH KIÊN T phạm tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt: NINH KIÊN T: 01 (Một) năm tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (Hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Ninh Kiên T cho Uỷ ban nhân dân xã C, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự năm 2019.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của bộ luật này.
Các biện pháp tư pháp:
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 46; khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự và điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
+ Chấp nhận việc Cơ quan CSĐT Công an huyện Krông Búk đã trả lại 01 xe ô tô tải biển kiểm soát: 47C-210.13 cho chủ sở hữu hợp pháp là Ninh Kiên T; 01 xe mô tô biển kiểm soát: 47B2-092.83 cho người đại diện hợp pháp của bị hại.
(Các vật chứng trên có đặc như biên bản về việc trả lại đồ vật, tài liệu ngày 28/02/2020).
- Trả lại cho bị cáo Ninh Kiên T 01 giấy phép lái xe số 790154182759 do Sở giao thông vận tải TPHCM cấp ngày 04/9/2015 là chủ sở hữu. (Đã trả cho Ninh Kiên T ngày 29/4/2020).
Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra bị cáo Ninh Kiên T đã tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại cho gia đình bị hại anh Y S Ayũn tổng số tiền 130.000.000đ (Một trăm ba mươi triệu đồng). Được đại diện hợp pháp gia đình bị hại làm đơn bãi nại và không yêu cầu gì thêm.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Buộc bị cáo Ninh Kiên T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo:
Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Lắk; - Sở tư pháp tỉnh Đắk Lắk; - VKSND huyện Krông Búk; - Công an huyện Krông Búk; - Chi cục THADS huyện Krông Búk; - Bị cáo, đương sự khác; - Lưu hồ sơ, văn phòng. ……………………….. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Thái Văn Hải |