- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đàm Quang H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đàm Quang H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy các vật chứng; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂK GLEI TỈNH KON TUM ơ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 11/2020/HS-ST Ngày: 28/9/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂK GLEI TỈNH KON TUM
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Đình Tài
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Y Hương; ông Nguyễn Viết Khang
Thư ký phiên tòa: Ông Hà Văn Kiên - Cán bộ Tòa án nhân dân Huyện Đăk Glei, tỉnh Kon Tum.
Đại diện VKSND huyện Đăk Glei, tỉnh Kon Tum tham gia phiên tòa: Ông Tạ Đình Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân Huyện Đăk Glei, tỉnh Kon Tum xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 11/2020/TLST – HS ngày 15 tháng 9 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 10/2020/QĐXXST – HS ngày 16 tháng 9 năm 2020 đối với bị cáo:
Đàm Quang H; tên gọi khác: không; sinh ngày 26/11/1999 tại Huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An; nơi đăng ký Hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn 16/5 thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam, con ông Đàm Quang N và bà Thái Thị Kim P; có vợ là Hoàng Thị D và 01 con sinh năm 2020.
Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân; ngày 18/4/2017 bị Công an huyện Đăk Glei, tỉnh Kon Tum xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chế tạo súng xâm hại sức khỏe của người khác, đã nộp phạt xong ngày 03/5/2017.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 17 tháng 8 năm 2020 đến nay (Có mặt).
- Người làm chứng:
+ Trần Hồng M; sinh năm 1998; nơi cư trú: Thôn 14B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum (Vắng mặt).
+ A Hoàng G; sinh năm 2001; nơi cư trú: Thôn X, xã X, huyện Đ, tỉnh Kon Tum (Có mặt).
+ Nguyễn Hữu C; sinh năm 1997; nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện N, tỉnh Kon Tum (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 17 giờ 30 phút, ngày 17/8/2020, Công an huyện Đăk Glei phối hợp với Công an xã Đăk Pek tiến hành kiểm tra chỗ ở của Trần Hồng M trú tại Thôn 14B, xã Đ, Hện Đ, tỉnh Kon Tum phát hiện trong nhà có 04 đối tượng gồm Đàm Quang H, Trần Hồng M, A Hoàng G và Nguyễn Hữu C đang sử dụng ma túy tại phòng ngủ của Trần Hồng M, tại đây Cơ quan chức năng đã thu giữ 01 (một) quẹt ga, 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy (thường gọi là nỏ). Tiến hành kiểm tra trên người của Đàm Quang H phát hiện trong túi quần trước bên phải của H có 01 (một) túi ni lông bên trong có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng nghi là ma túy nên đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Đàm Quang H về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tạm giữ, niêm phong tang vật theo quy định.
Ngày 18/8/2020, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Huyện Đăk Glei ra quyết định trưng cầu giám định số: 20 trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự (PC09) Công an tỉnh Kon Tum giám định số mẫu vật đã thu giữ được nghi là chất ma túy.
Kết luận giám định số: 166/KLGĐ – PC09 ngày 21/8/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kon Tum kết luận: Chất rắn dạng tinh thể màu trắng bên trong túi ni lông thu được trên người Đàm Quang H là ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng 0,850 gam.
Cáo trạng số: 09/CT - VKS ngày 14 tháng 9 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Glei truy tố bị cáo Đàm Quang H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Glei giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Đàm Quang H từ 16 đến 20 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 17/8/2020.
Về hình phạt bổ sung: Xét các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là lao động tự do, không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định, đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý theo quy định của pháp luật.
Lời nói sau cùng: Bị cáo đã nhận thấy hành vi phạm tội của mình, bản thân sẽ cố gắng sửa chữa để trở thành người có ích cho xã hội và gia đình. Mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đăk Glei, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Glei, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người làm chứng không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản thu giữ vật chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, có đủ căn cứ xác định: Vào khoảng 17 giờ 30 phút, ngày 17/8/2020, tại nhà của Trần Hồng M trú tại: Thôn 14B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum, Đàm Quang H đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy loại Methamphetamine, với số lượng 0,850 gam để sử dụng thì bị Công an Huyện Đăk Glei phát hiện, bắt giữ. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Glei truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý đặc biệt của Nhà nước đối với ma túy và các chất gây nghiện, theo đó Nhà nước cấm tuyệt đối sử dụng chất này trong y học và đời sống xã hội bởi hệ lụy của ma túy là chất gây nghiện, đồng thời cũng là nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội khác. Bản thân bị cáo là người nghiện ma túy, bị cáo biết rất rõ tác hại của việc sử dụng ma túy để lại đối với trí lực, thể lực của con người cũng như kinh tế của chính gia đình, bản thân người nghiện và xã hội. Nhưng do có lối sống buông thả và để thỏa mãn cho ham muốn cá nhân mà bị cáo bất chấp các quy định của pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự để cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, đặc điểm về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, ngày 18/4/2017 bị Công an huyện Đăk Glei, tỉnh Kon Tum xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chế tạo súng xâm hại sức khỏe của người khác, bị cáo đã chấp hành xong quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là lao động tự do, không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định, do đó Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo.
. Về xử lý vật chứng: Đối với 01 túi ni lông bên trong có chứa chất ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng 0,832 gam được hoàn lại sau khi đã sử dụng một phần để giám định (theo Biên bản đóng gói, niêm phong và giao nhận lại đối tượng giám định ngày 21/8/2020) là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu huỷ; 01 (một) quẹt ga bằng nhựa phần đầu quẹt màu đỏ vàng, bên trong có bộ phận kích lửa và gas; 01 chai nước bằng nhựa trong hình trụ tròn cao 22cm, bên trong chứa nước trắng không màu cao 15cm, phần nắp chai màu xanh được khoan hai lỗ tròn đường kính 0,6 cm, trong đó một lỗ cắm ống hút nhựa dạng co rút dài 38 cm, lỗ còn lại cắm ống thủy tinh có phần đầu cong xuống và phình ra hình cầu, đỉnh quả cầu có miệng rộng 0,6 cm, ống thủy tinh dài 18cm; 01 (một) quần lửng bằng vải màu trắng, phía trước và sau đều có hai túi ở hai bên trái – phải, không có nhãn hiệu là những đồ vật không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy theo quy định.
. Đối với đối tượng bán ma túy cho bị cáo Đàm Quang H: Trong quá trình điều tra, bị cáo khai nhận mua ma túy của một người không rõ tên tuổi, địa chỉ ở thị trấn Plei Kần, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum. Cơ quan CSĐT Công an huyện Đăk Glei đang tiếp tục xác minh, khi có kết quả sẽ xử lý theo quy định pháp luật.
. Đối với Trần Hồng M, A Hoàng G và Nguyễn Hữu C, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đăk Glei đã chứng minh không có đồng phạm với Đàm Quang H và cũng không có dấu hiệu của tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 255 và tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 256 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 nên đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là đúng quy định của pháp luật.
. Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải nộp tiền án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Đàm Quang H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Áp dụng: Điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo Đàm Quang H 16 (Mười sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 17/8/2020.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy các vật chứng sau:
01 túi ni lông bên trong có chứa chất ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng 0,832 gam được hoàn lại sau khi đã sử dụng một phần để giám định (theo Biên bản đóng gói, niêm phong và giao nhận lại đối tượng giám định ngày 21/8/2020).
01 (một) phong bì màu trắng đánh số ký hiệu 02, tại mép dán có đóng dấu tròn của Cơ quan CSĐT Công an huyện Đăk Glei và chữ ký đứng tên Nguyễn Văn N, A C và Đàm Quang H, bên trong phong bì có chứa 01 (một) quẹt ga bằng nhựa phần đầu quẹt ga màu đỏ vàng, bên trong có bộ phận kích lửa và gas; 01 chai nước bằng nhựa trong, hình trụ tròn cao 22cm, bên trong chứa nước trắng không màu cao 15cm, phần nắp chai màu xanh được khoan hai lỗ tròn đường kính 0,6 cm, trong đó một lỗ cắm ống hút nhựa dạng co rút dài 38 cm, lỗ còn lại cắm ống thủy tinh có phần đầu cong xuống và phình ra hình cầu, đỉnh quả cầu có miệng rộng 0,6 cm, ống thủy tinh dài 18cm.
01 (một) phong bì màu trắng đánh số ký hiệu 03, tại mép dán có đóng dấu tròn của Cơ quan CSĐT Công an huyện Đăk Glei và chữ ký đứng tên Nguyễn Văn N, A C và Đàm Quang H, bên trong phong bì có chứa 01 (một) quần lửng bằng vải màu trắng, phía trước và sau đều có hai túi ở hai bên trái – phải, không có nhãn hiệu.
(Vật chứng có đặc điểm nhận dạng như tại Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Huyện Đăk Glei và Chi cục Thi hành án dân sự Huyện Đăk Glei ngày 15/9/2020)
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 3, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Đàm Quang H phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (28/9/2020).
| Nơi nhận: - TAND cấp cao, tại TP Đà Nẵng; - TAND tỉnh Kon Tum; - VKSND tỉnh Kon Tum; - Phòng hồ sơ Công an tỉnh Kon Tum; - VKSND Huyện Đăk Glei; - Công an Huyện Đăk Glei; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Đình Tài |